Nghĩ và ngẫm về nội thất

Nghĩ và ngẫm về nội thất

(Vietnamarchi) - Nội thất, song cùng kiến trúc, tiến bước dài, đang đứng cả hai chân trong hiện đại hóa, quốc tế hơn và tìm kiếm cái riêng, như một lộ trình tự nhiên. Trong sự đẹp và sang lên của nội thất kiến trúc, không tài nào tránh khỏi sự nhận ra: Nền kiến trúc hôm nay, đặc biệt là nội thất, bộc lộ rõ ràng và thách thức, một hiện tượng xã hội, tạm gọi một cách khoa học là Chủ nghĩa Hình thức, nói nôm na là trào lưu phô trương. Cái đẹp bị lấn át bởi nhận thức thiên lệch về cái sang. Cái sang không tương thích với sự giàu lên của quốc gia và xã hội.
07:15, 07/08/2024

1. Kiến trúc xuất hiện từ bao giờ?

Từ bao giờ nó thoát ra khỏi hoạt động xây cất để trở thành một nền nghệ thuật kiến tạo?

Từ bao giờ xuất hiện nhận thức kiến trúc nội thất, thoát ly khỏi sự nhất thể hoá, tưởng chừng tuyệt đối của nền kiến trúc?

Trong sự bất tách lìa ấy, nhận thức thế nào đây về vai trò, sứ mệnh của hoạt động nội thất, vừa mang bản chất chuyên biệt, lại vừa là một cấu thành hữu cơ, là phần mềm – đầu ra của mỗi sáng tạo kiến trúc?

nội thất

Một nhận thức gốc rễ, cơ bản cần khẳng định: Nội thất là hàm số, đi ra từ kiến trúc công trình, tạo thành sự trọn vẹn và vẻ đẹp truyền dẫn cho thể khối tưởng như câm lặng.

Từ xa xưa thăm thẳm và qua suốt giai đoạn rèn đúc nền văn minh nhân loại kéo dài, căn nhà – nơi trú ngụ, đã định hình thành một mẫu hình kiến trúc bền lâu hơn cả, gắn kết thành một thể cả ngoài lẫn trong, nhằm, hoặc đối chọi hoặc chung sống, cùng Đất – Trời, làm bổn phận một công cụ phục vụ nhu cầu sống của con người. Hình thái kiến trúc và nội hàm của nó sản sinh ra từ nguyên vật liệu tại chỗ và bởi kỹ thuật xây cất thành thục qua thời gian. Nơi có đá – xếp thành nhà. Nơi chỉ có đất sét – đắp thành nhà. Có tre có gỗ – dựng thành nhà. Không có những thứ kể trên, ngoài cỏ – đem da bò và da cừu phơi khô, lợp và quây thành cái nhà – lều.

nội thất

Trong cả 4 trường hợp ấy, cái vỏ kiến trúc và không gian bên trong, hợp phối thành Một.

Những ai từng đến phương Bắc xa vời, hẳn đã bước vào những căn nhà: Vách tường xếp chồng bằng gỗ nguyên thân, mái lợp gỗ chẻ, với cái lò sưởi ngự giữa nhà, với cái sàn lửng ôm lấy nó để sưởi ấm. Ngẫm từ đó, nhận ra: Đây đích thực là một sản phẩm kiến tạo, sản sinh bởi sự giải mã và tận dụng Thiên nhiên, mình được cấy vào.

Những ai từng đến những vùng thảo nguyên chỉ toàn cỏ tít tắp, hẳn nhận ra những căn lều tròn và trắng, hệt những bọt xà phòng. Chúng được cấu tạo bằng khung gỗ lắp ghép, phủ kín mít bởi da cừu hoặc da bò, bên trong đặt cái lò sưởi ở giữa, ống khói thông lên tận nóc, toả ấm đều ra xung quanh. Một sản phẩm kiến trúc, vừa nguyên sơ lại vừa thông minh đến ngỡ ngàng, nơi hình thái bên ngoài sản sinh tự nhiên hình thái bên trong.

Trên chặng đường tiến hoá chậm chạp kéo dài hàng ngàn năm, đồng thời cũng diễn ra chậm chạp quá trình chuyển hoá từ nền kiến trúc dựa trên kỹ thuật xây và cất sang nền kiến trúc không tách lìa khỏi thành tố thứ hai, trang trí và tô điểm. Nói theo ngôn ngữ thời nay, một kiến tạo kiến trúc cùng đảm nhiệm hai công năng: Một để phục vụ nhu cầu cuộc sống, một để phục vụ nhu cầu về cái Đẹp, tiếp theo là nhu cầu về sự Sang. Sự Đẹp và sự Sang được bố cục, được đắp và vẽ cùng một lúc trên mặt nhà, bên trong ngôi nhà và cả bao quanh ngôi nhà.

Những lâu đài, cung điện, thánh đường,… chính là hiện thân của sự tổng hoà của nghệ thuật kiến trúc. Ở thánh đường, nghệ thuật trang trí kiến trúc còn đảm nhiệm bổn phận, chuyên biệt và đặc biệt hệ trọng – Đó là sự “Thiêng liêng hoá” công trình xây dựng. Từ xa xưa, nền kiến trúc bổ sung thêm hai địa hạt hoạt động:

a/ Tổ chức và tô điểm không gian bên trong toà nhà,

b/ Tổ chức và tạo cảnh không gian bao quanh nó.

Hoạt động thứ hai nay gọi là tạo cảnh hoặc nghệ thuật tạo cảnh. Những đỉnh cao của lĩnh vực này là những cung điện – công viên Versailles và Petergof ở Pháp và ở Nga.

Hoạt động thứ nhất nay gọi là nội thất, theo cách hiểu bao trùm.

Không mấy khi nhắc tới ngoại thất, được hiểu là sự tô điểm mặt đứng ngôi nhà. Ấy vậy, ở ta thời nay khá thịnh hành trào lưu “hoá trang” kiến trúc theo kiểu cách Âu châu dăm ba thế kỷ trước. Hoá ra, kiến trúc cũng có thể huy động vào lễ hội hoá trang.

nội thất 3
Chùa Đậu, Thường Tín, Hà Nội.

2. Nhìn và ngẫm về nội thất trong kiến trúc cổ truyền của người Việt

Thử ngoái nhìn và ngẫm về nội thất trong kiến trúc cổ truyền của người Việt. Người viết chủ ý dùng tính từ “cổ truyền” mà không phải tính từ phổ biến “truyền thống” – Bởi nó hàm tích hơn cả cái bản chất xương cốt của nền kiến trúc Việt, của cái tinh thần mà ta thấu và cảm ở nó.

Thành quả rõ và đậm hơn cả của nền kiến trúc cổ truyền Việt là: Căn nhà gỗ, cái làng và con phố.

Căn nhà gỗ là sản phẩm bản sắc và đặc sắc hơn cả. Nó đích thực đi ra và sản sinh bởi điều kiện – tài nguyên – khí hậu – môi trường sinh thái hoá, bởi cộng đồng xã hội nông nghiệp và phong kiến bền lâu, bởi kỹ thuật dựng nhà duy nhất phù hợp từ vật liệu sẵn có và lưu truyền bằng kinh nghiệm hơn học thuật. Từ những xuất phát điểm gốc rễ nêu trên, nảy sinh – sàng lọc rồi tinh thể hoá cái cảm thức, cái mỹ cảm truyền đời truyền kiếp của ông cha ta đối với căn nhà gỗ.

nội thất
Bờ rào đá bao quanh nhà trình tường của đồng bào người Mông ở thôn Lũng Cẩm, xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, Hà Giang.(Ảnh: Nguyễn Chiến/TTXVN).

Dù là căn nhà để ở, để tụ họp, để thờ cúng,…Nhất nhất đều là những nếp nhà 3, 5, 7 gian – Dựng trên hệ cột, không có móng, hợp kết không gian bằng xà ngang xà dọc, bằng kè, bằng vì và hệ mái. Cái đẹp và cái quý thể hiện ở khúc gỗ, ở sự gia công chúng, ở mộng mẹo, ở các dường soi, ở chạm viền hoặc chạm lọng ngay trên các thành phần chịu lực…Những bức cốn, ván nong đặt ghép vào hệ kết cấu, không làm suy xuyển tính chủ đạo của cấu trúc chịu lực, không làm giảm vẻ đẹp, chân và mộc, đi ra từ nó.

Bài trí trong nhà tối thiểu hoá. Ở gian giữa, trang trọng hơn cả, đặt bàn thờ gia tiên. Ở đình làng, phần thờ đặt trên gác lửng ở gian giữa, sự linh thiêng nhấn mạnh bởi cửa võng. Ở chùa, tam bảo đặt ở trục giữa hay hậu cung, có bệ đặt các pho tượng, có hoành phi và đại tự. Kỹ thuật trang trí sơn thếp, sơn son thếp vàng, chỉ thể hiện ở gian giữa đình, ở tam bảo chùa và dày đặc hơn ở các ngôi đền. Hầu như không thấy hiện tượng sơn phủ toàn phần.

Kiến trúc cổ truyền Việt thiên về sự coi trọng tính tự nhiên, thể hiện ở mọi trường hợp. Chẳng hạn, ưu tiên không gian thông thoáng và thống nhất hơn không gian ngăn cách chia nhỏ. Chẳng hạn, nền nhà không lát mà để đất nện, trong khi đó, sân trước lại lát gạch. Trong chiều hướng suy nghĩ này, người Việt ưa dùng rau sống hay luộc, tránh sự pha chế làm mất vị tự nhiên.

Đồ gia dụng, cấu thành một phần động của nội thất theo cách hiểu hiện đại, cũng toàn làm bằng gỗ và tre trồng tại khuôn viên nhà mình hay tậu ở chợ gần: Cái chõng, ván ngựa, manh chiếu da năng, cái chạn, nong nia, thúng mủng, chum vại,… Nhà nào sẵn tiền, dùng sập gụ, tủ chè và tràng kỷ để mộc hoặc khảm nạm.

nội thất

Ở cố đô Huế, dưới triều đại phong kiến cuối cùng, vẫn bảo lưu một tài nguyên – di sản kiến trúc và đồ vật nội thất biểu hiện độ chín muồi, tính chất cung đình, và không nên ngại ngần mà nói, đạt đỉnh cao về phẩm chất tinh hoa. Nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí của các triều Lý – Trần và Hậu Lê có lẽ là cùng từng đạt những đỉnh cao, song hầu như không để sót lại những dấu tích vật chất. Tan biến cả.

Quay trở lại với nền kiến trúc và mỹ thuật (tạm gọi là như vậy) cổ truyền của người Việt, ta có thể đúc kết: Thiên nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, mê tín và những đặc điểm nhân học đã hun đúc nên mẫu hình kiến trúc cư trú, với sự hiện thân của căn nhà tạo tác nên bởi vật liệu hữu cơ, gỗ – tre – lá, cùng phần mềm của nó gồm đồ đạc và dụng cụ sinh hoạt, trong môi trường nhà – vườn khép kín, duy trì lối sống khép, tự cung tự cấp. Cái kiến tạo cư trú muôn thuở ấy sản sinh bởi tư duy thiên về tính thiết thực, sự nhún nhường với thiên nhiên Đất – Trời, thói quen chắt chiu và tinh thần chịu đựng. Người Việt cổ truyền trong tư duy và trong thẩm mỹ xây dựng đề cao tính chắc bền của cấu trúc căn nhà, vẻ đẹp tự thân của vật liệu, chừng mực trong trang trí, chuộng vẻ đẹp thô mộc, thiên về sự giản tiện.

Ngẫm nghĩ, nhận ra bản chất sâu sa giữa căn nhà cổ truyền của cha ông mình có gì đó mật thiết với bộ đồ nâu, với câu ca dao.

3. Chuyển đổi từ công trình "dựng" sang "xây"

Từ cuối thế kỷ 19, trong hoàn cảnh chính trị biến đổi một cách cơ bản, nước ta bước vào không chủ động cuộc hội nhấp quốc tế lần thứ nhất, theo cách nhìn nhận thời nay. Trong lĩnh vực xây dựng và kiến trúc, diễn ra một cuộc chuyển đổi cơ bản: Từ công trình “dựng” sang công trình “xây”. Bên cạnh sự xâm nhập của nền kỹ nghệ cùng nền xây dựng hiện đại và khác biệt, không thể không nhận ra hai biểu hiện thực sự mang tính chất đổi đời; Đó là ngôi nhà lầu cùng những tiện nghi sống kèm theo nó. Nước máy, đèn điện và quạt máy và không kém phần hệ trọng hơn, là bộ xa lông cùng giường tủ. Sự tiện lợi trông thấy, song đáng nhận biết hơn cả là sự “mềm” hoá nơi ngồi và nơi nằm, với những cái đệm. Sự khắc khổ, chưa bao giờ được nói ra, từ những đồ gỗ làm bằng tre và gỗ, biến mất.

Vào những năm thuộc nửa đầu thế kỷ 20, ở các đô thị lớn dần dần xuất hiện và định hình những kiểu cách đồ gia dụng, kế thừa và Việt hoá những khuôn mẫu có nguồn gốc Trung Hoa và Pháp. Cũng ở thời gian đó nảy sinh những nỗ lực ít ỏi, – Á Đông hoá, Việt hoá, kiểu nhà lầu Tây.

Ở những thập niên thời bao cấp, lu mờ và biến dần hình ảnh nhà lầu đô thị, với những bộ tràng kỷ sập gụ tủ chè, những bộ xa lông tân thời. Nơi cư trú và nội hàm bên trong mang khuôn mặt khắc khổ – Tiện nghi tối thiểu, giản tiện tối đa. Thời bao cấp để lại hai sản phẩm kiến trúc đặc trưng – Đó là những tòa nhà công sở biểu hiện sự đề cao công năng sử dụng và sự đoạn tuyệt với trang trí và phô trương. Đó là hàng trăm nhà ở tập thể lắp ghép, phản ảnh sự tuyệt đối hóa một tư tưởng cao đẹp, song bất khả thi – Về cung cấp chỗ ở miễn phí.

Từ những năm 90 thế kỷ qua, đất nước bước vào giai đoạn phát triển bứt phá mà không một học thuyết xã hội nào đủ sức kìm níu. Thị sở hơn cả là sự bùng nổ và thịnh phát xây dựng và kiến trúc: Quy mô, tân tiến, quốc tế hóa, khang trang; cái đẹp và sự sang ngày càng bộc lộ rõ. Nền kiến trúc đa dạng lên, chất lượng và tiện nghi cao hơn, đắt đỏ và đẳng cấp lên, hiển nhiên dẫn tới nhu cầu không dễ bề đáp ứng, đẹp. Đó là cái đẹp của diện mạo đô thị và làng quê, cái đẹp của kiến trúc công trình, cái đẹp bên trong của chúng. Định hình và bổ túc dần khái niệm nội thất, không chỉ nhằm tạo ra cái đẹp, mà còn nhằm tổ chức, sắp xếp và tối đa hóa đòi hỏi về phát huy không gian. Từ thiết kế công trình đi kèm thiết kế triển khai nội thất, đến thiết kế nội thất độc lập cho những công trình cải tạo, chuyển đổi chức năng, đến các công trình chuyên dụng và đặc biệt. Hình thành một địa hạt chuyên môn mới – Thiết kế nội thất, KTS nội thất, rồi ngành kiến trúc nội thất, vật liệu nội thất, nghề làm nội thất.

nội thất

Nội thất, song cùng kiến trúc, tiến bước dài, đang đứng cả hai chân trong hiện đại hóa, quốc tế hơn và tìm kiếm cái riêng, như một lộ trình tự nhiên.

Trong sự đẹp và sang lên của nội thất kiến trúc, không tài nào tránh khỏi sự nhận ra: Nền kiến trúc hôm nay, đặc biệt là nội thất, bộc lộ rõ ràng và thách thức, một hiện tượng xã hội, tạm gọi một cách khoa học là Chủ nghĩa Hình thức, nói nôm na là trào lưu phô trương. Cái đẹp bị lấn át bởi nhận thức thiên lệch về cái sang. Cái sang không tương thích với sự giàu lên của quốc gia và xã hội.

Điều này dễ nhận ra hơn cả ở hai thể loại kiến trúc: Công sở và nhà ở. Phổ biến hình ảnh kiến trúc công sở dạng mô phỏng cung điện, dĩ nhiên thô thiển hơn, với những đại sảnh và phòng nghi thức lộng lẫy đến khó hiểu, với những bộ đồ gỗ khuếch trương bởi kích thước và bởi chạm đục. Nhà ở, đô thị và nông thôn, xây biệt lập hoặc liền kề, thiên về xu hướng nhại cổ có nguồn gốc Âu châu, phần đắp lấn lướt phần xây, với sự bài trí bên trong nặng về phô hơn dụng. Trong cả hai trường hợp ấy, con người – công chức và con người – chủ nhân, những cơ ngơi ấy đã làm chủ đích thực chưa, hay chỉ làm chủ cái sự vay mượn?

Những câu hỏi đang đặt ra: Tính ích dụng và tính kinh tế; mối liên quan giữa xu hướng phô trương và với cảm thức truyền thống Việt ta; giữa quy mô kích cỡ và đặc điểm nhân học; giữa sự phung phí tài nguyên Trời cho với sự báo động về hữu hạn trông thấy… Những câu hỏi khó tìm lời đáp hơn về thước đo Chừng mực – Chừng mực trong việc dùng, trong việc hưởng. Khái niệm này mang bản chất Văn hóa.

Chớ biến nơi ở thành cửa hàng bách hóa.

Chớ biến nơi làm việc thành chỗ phô trương.

Sự thừa bứa đáng sợ hơn sự thiếu.

Sản phẩm nội thất tốt nhất khi, ở trong đó, ta cảm nhận cái đẹp, cái sang và cái riêng tự nhiên.

TOD những góc nhìn Cũ – Mới

Ngày 15/10/2026, Hội KTS Hà Nội tổ chức Toạ đàm “Đường sắt đô thị mở đường cho hiện đại hóa đô thị Hà Nội, tầm nhìn 100 năm” quy tụ nhiều ý kiến của các cơ quan quản lý, chuyên gia nhằm phân tích chuyên sâu về cơ hội và thách thức mới và cũ khi phát triển các đô thị xung quanh nhà ga theo mô hình TOD.

Kỹ sư Vũ Đình Thanh và Thượng tướng AHLLVT Nguyễn Huy Hiệu: Tâm huyết với những trang sử dân tộc

Sau hơn một thập kỷ nghiên cứu, sưu tầm và đối chiếu tư liệu lịch sử từ nhiều nguồn, kỹ sư Vũ Đình Thanh – chuyên gia kỹ thuật, đại diện Tập đoàn vũ khí hàng không Nga NPO ALMAZ tại Việt Nam tiếp tục công bố những luận điểm nghiên cứu về triều đại Tây Sơn trên cơ sở các văn bản lưu trữ của Pháp. Cùng với sự trao đổi, đồng hành nghiên cứu của Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu, những tư liệu được giới thiệu mở ra thêm hướng tiếp cận lịch sử quân sự Việt Nam cuối thế kỷ XVIII.

Đột phá thể chế, khơi thông sức mạnh tư nhân

Việc Hà Nội ký hợp đồng chìa khóa trao tay triển khai đồng thời năm tuyến đường sắt đô thị mở ra một phép thử lớn về năng lực tổ chức thực hiện, đồng thời đặt ra yêu cầu thay đổi tư duy quản lý các dự án đầu tư công quy mô lớn. Trong thời gian dài, việc triển khai những công trình như vậy thường gắn với quan niệm Nhà nước phải trực tiếp nắm giữ và quản lý chặt chẽ các khâu thực hiện.

Tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích: Nghiên cứu trường hợp di sản Mỹ Sơn

Phạm vi nghiên cứu của bài viết là không gian di tích lịch sử - văn hóa tại Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là quần thể di tích lịch sử văn hóa, bao gồm các cụm (nhóm) công trình xây dựng, địa điểm, di chỉ khảo cổ… có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Mục tiêu nghiên cứu là xác định tính chuyên biệt trong thực hành quy hoạch di tích tại Việt Nam. Khung nghiên cứu của bài viết là quá trình đánh giá di sản Mỹ Sơn, đối chiếu khái niệm “tính chuyên biệt” trong quy hoạch bảo tồn di sản đã được thế giới công nhận, bài viết nhận diện ba trụ cột nền tảng hình thành tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích, bao gồm: Tính thiêng, không gian thiêng và cộng đồng tín ngưỡng. Trên cơ sở ba trụ cột đó, bài viết đi sâu phân tích tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích tại di sản Mỹ Sơn theo các vấn đề như: phương pháp quy hoạch, xác định giới hạn không gian can thiệp, định hướng cấu trúc không gian, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng và sự tham gia cộng đồng. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để hoàn thiện công tác quy hoạch quần thể di tích lịch sử văn hóa tại Việt Nam.

Những tư liệu quý từ Pháp mở thêm hướng tiếp cận mới cho giới nghiên cứu

Việc xuất hiện các văn kiện ngoại giao, báo cáo quân sự và ấn bản chính thức được lưu giữ tại Pháp đã bổ sung nguồn tư liệu có giá trị cho công tác nghiên cứu, lưu trữ tại Việt Nam. Đây được xem là bước tiến đáng chú ý trong hành trình tiếp cận các nguồn sử liệu gốc, góp phần làm phong phú thêm kho tư liệu phục vụ nghiên cứu khoa học và bảo tồn di sản tư liệu.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh