Tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích: Nghiên cứu trường hợp di sản Mỹ Sơn

Tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích: Nghiên cứu trường hợp di sản Mỹ Sơn

(Vietnamarchi) - Phạm vi nghiên cứu của bài viết là không gian di tích lịch sử - văn hóa tại Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là quần thể di tích lịch sử văn hóa, bao gồm các cụm (nhóm) công trình xây dựng, địa điểm, di chỉ khảo cổ… có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Mục tiêu nghiên cứu là xác định tính chuyên biệt trong thực hành quy hoạch di tích tại Việt Nam. Khung nghiên cứu của bài viết là quá trình đánh giá di sản Mỹ Sơn, đối chiếu khái niệm “tính chuyên biệt” trong quy hoạch bảo tồn di sản đã được thế giới công nhận, bài viết nhận diện ba trụ cột nền tảng hình thành tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích, bao gồm: Tính thiêng, không gian thiêng và cộng đồng tín ngưỡng. Trên cơ sở ba trụ cột đó, bài viết đi sâu phân tích tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích tại di sản Mỹ Sơn theo các vấn đề như: phương pháp quy hoạch, xác định giới hạn không gian can thiệp, định hướng cấu trúc không gian, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng và sự tham gia cộng đồng. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để hoàn thiện công tác quy hoạch quần thể di tích lịch sử văn hóa tại Việt Nam.
10:19, 20/10/2026

Đặt vấn đề

Quy hoạch di tích là một chuyên ngành đặc thù đòi hỏi cách tiếp cận riêng biệt so với quy hoạch đô thị thông thường. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, nhiều đồ án quy hoạch quần thể di tích lịch sử văn hóa vẫn áp dụng máy móc phương pháp quy hoạch đô thị, tập trung vào phân khu chức năng, thiết lập mạng lưới giao thông nhằm khai thác tối đa giá trị quỹ đất đai. Cách làm này dẫn đến việc không gian của quần thể di tích bị chia cắt bởi đường giao thông, công trình hóa di sản; những khu vực lẽ ra phải bảo vệ lại bị quy hoạch thành đất xây dựng công trình dịch vụ thương mại, làm suy giảm các giá trị gốc cấu thành di sản. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nhận diện và tích hợp đặc điểm chuyên biệt của quần thể di tích vào thực hành quy hoạch, từ đó duy trì giá trị nguyên gốc và phát huy giá trị di sản bền vững trong bối cảnh phát triển đô thị đương đại.

Quần thể đền tháp Mỹ Sơn tại Thành phố Đà Nẵng là trường hợp điển hình để nghiên cứu về vấn đề này. Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1999 theo hai tiêu chí: (ii) là minh chứng nổi bật về sự giao lưu văn hóa và tiếp biến nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ giáo vào văn hóa bản địa; và (iii) phản ánh sinh động tiến trình phát triển lịch sử văn hóa của vương quốc Champa, một hiện tượng quan trọng trong lịch sử vùng Đông Nam Á. Di sản này chứa đựng nhiều giá trị tiêu biểu như: lịch sử văn hóa, khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật trong cảnh quan thiên nhiên rừng núi nhiệt đới độc đáo [2]. Với vị thế là một thung lũng linh thiêng được bao bọc bởi các các dãy núi thiêng (hòn Đền) và suối thiêng (khe Thẻ), di sản Mỹ Sơn vừa là trung tâm tôn giáo, vừa gắn kết hữu cơ với môi trường tự nhiên. Những đặc điểm này khiến Mỹ Sơn trở thành mô hình tiêu biểu của loại hình di sản văn hóa tại Việt Nam. Các nghiên cứu về di sản Mỹ Sơn chủ yếu về lĩnh vực trùng tu, tu bổ, phục hồi và khảo cổ, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về quy hoạch di tích. Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu này, bài viết tập trung làm rõ khái niệm tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích, đồng thời phân tích trường hợp di sản Mỹ Sơn nhằm đề xuất các nguyên tắc quy hoạch thích hợp.

Khái quát về di sản Mỹ Sơn

Lịch sử hình thành

Theo thư tịch cổ Trung Hoa thì vào cuối thế kỷ thứ II sau công nguyên, người Chăm đã thành lập được nhà nước độc lập gọi là nước Lâm Ấp. Bi ký Champa cổ cho biết vua Bhadravarman I (người đã xây dựng kinh thành Trà Kiệu) đã chọn thung lũng Mỹ Sơn làm nơi dựng đền thờ thần Siva vào cuối thế kỷ thứ IV sau Công nguyên. Thung lũng này kín đáo nên vừa đạt được sự thâm nghiêm cần thiết theo quan niệm Ấn Độ giáo lại vừa có tính chất hiểm trở của một khu vực phòng ngự.

Bi ký cổ Champa cho biết ngôi đền đầu tiên được dựng bằng gỗ, có tên là Bhadresvara. Thần được thờ dưới biểu tượng bộ sinh thực khí. Bộ linga thờ này là biểu hiện cổ nhất của sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền ở Đông Nam Á. Hơn hai thế kỷ sau, khoảng giữa những năm 529 - 577, ngôi đền này không may bị tiêu hủy. Vua Sambhuvarman (mất năm 629) đã xây dựng lại bằng gạch nung và ghép thêm tên mình vào tên cũ thành Sambhubhadresvara. Từ đó về sau, vị vua nào sau khi lên ngôi cũng đều cho xây dựng ở Mỹ Sơn những đền tháp mới hoặc tu bổ lại các ngôi đền cũ bị thời gian và chiến tranh hủy hoại. Vì vậy Mỹ Sơn dần phát triển thành thánh địa của cả vương quốc.

Từ năm 749 đến năm 875 vai trò trị vì vương quốc thuộc về thị tộc Cau (Kramukavamsa) ở miền Nam, Virapura được coi là kinh đô. Và một thánh địa mới được tôn sùng, đó là Pô Nagar ở vùng Kauthara (Nha Trang), thờ nữ thần Mẹ của vương quốc. Vào những năm cuối của thế kỷ IX, vua Indravarman II đặt lại kinh đô ở vùng Indrapura (Quảng Nam). Năm 875 ông đã xây dựng một Vihara (Phật viện) ở Đồng Dương, cách Trà Kiệu 20km về phía Nam. Đây chính là thánh địa lớn thứ ba của vương quốc Champa.

Từ năm 1170 trở đi, nhiều cuộc chiến đã xảy ra giữa vương quốc Champa và các nước láng giềng, nhiều lần người Chăm mất chủ quyền. Mãi tới năm 1220 nền độc lập mới được vua Jaya Paramesvaravarman II khôi phục. Vị vua này đã cho dựng lại tất cả các linga ở Yang Po Nagara (Nha trang) và Srisambhubhadresvara (khu đền tháp Mỹ Sơn hiện nay). Sau thời gian này có lẽ các vua Champa không xây dựng gì thêm mà chỉ thờ phụng, dâng cúng lễ vật. Đây cũng là thời kỳ bắt đầu suy thoái của vương quốc Champa. Khu đền tháp Mỹ Sơn không được chăm sóc dần trở thành hoang phế vào thế kỷ thứ XV, khi các vua Champa buộc phải lui về vùng Panduranga (Phan Rang) lập kinh đô Pandurang. [12]

Cấu trúc không gian

Mỹ Sơn nằm lọt giữa thung lũng được bao quanh bởi các ngọn núi cao và một dòng suối thiêng ở giữa, ở giữa là quần thể kiến trúc đền tháp đã tạo nên một cấu trúc không gian thờ tự đặc biệt cẩn mật và trang nghiêm tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài [7].

Tọa lạc ở phía Nam khu di tích, ngọn núi cao nhất còn được gọi là núi Hòn Đền, tiếng Phạn là Mahaparvata tượng trưng cho núi thiêng Meru. Dòng suối Thẻ khởi nguồn từ ngọn núi thiêng Meru chảy về hướng Bắc nối vào sông Thu Bồn, tiếng Phạn là Mahanadi tượng trưng cho Nữ thần Ganga, vợ của Thần Siva. Địa hình tự nhiên kỳ vĩ, độc đáo này cũng tạo thành vòng cung bảo vệ vững chắc cho toàn thể khu thánh địa.

Tư duy kiến trúc đền tháp Champa chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Vì vậy, các ngôi đền tháp là một cụm công trình tôn giáo bao gồm một ngôi đền chính nằm ở giữa (Kalan), xung quanh là các ngôi đền nhỏ hơn, các tòa tháp phụ trợ và tường bao thấp. Ngôi đền chính kalan tượng trưng cho ngọn núi Meru, trung tâm của vũ trụ. Những ngôi đền nhỏ hơn tượng trưng cho các vị thần và tường bao biểu tượng cho đại dương vũ trụ bao quanh núi Meru.

3. Khái niệm về tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích

Khái niệm "tính chuyên biệt" (specificity) trong quy hoạch di tích được hiểu là nguyên tắc tiếp cận quy hoạch được hình thành từ những đặc điểm riêng có của từng di sản. Những đặc điểm này đòi hỏi phương pháp, nội dung và giải pháp quy hoạch khác với quy hoạch đô thị thông thường. Sự chuyên biệt này không chỉ dừng ở nét khác biệt về cấu trúc không gian hay công năng sử dụng của di sản, mà quan trọng hơn là sự hòa quyện giữa bản chất di sản với môi trường tự nhiên và bản sắc văn hóa bản địa trong không gian đó. Nói cách khác, tính chuyên biệt thể hiện ở việc thực hành quy hoạch phải tôn trọng và phát huy giá trị riêng của di sản, bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể, hữu hình và vô hình, cấu thành bản sắc độc đáo của nơi chốn.

Về phương diện lý thuyết bảo tồn quốc tế, UNESCO và ICOMOS đã có những định hướng liên quan đến tính đặc thù của di sản trong quy hoạch di tích. Khuyến nghị về Cảnh quan đô thị lịch sử (Historic Urban Landscape) đã nhấn mạnh rằng mỗi địa điểm di sản có tính duy nhất về bối cảnh lịch sử, văn hóa và cấu trúc cảnh quan, cần được hiểu và quản lý một cách toàn diện, tích hợp vào mục tiêu phát triển bền vững [1] [3]. Nguyên tắc Valletta về bảo tồn và quản lý đô thị lịch sử nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ tính chân xác (authenticity) và tính toàn vẹn (integrity) của đô thị lịch sử, bao gồm công trình, không gian, cảnh quan và các mối quan hệ tạo nên giá trị của địa điểm. Nói cách khác, mọi can thiệp vào địa điểm cần đảm bảo duy trì được bối cảnh địa điểm gốc và hệ thống cấu trúc vật chất chân thực vốn làm nên giá trị di sản. ICOMOS cũng chỉ rõ rằng tính chân xác và toàn vẹn của địa điểm lịch sử được thể hiện qua bản chất và sự gắn kết của tất cả các yếu tố hữu hình lẫn vô hình cấu thành, qua đó biểu đạt nên tính đặc thù [1]. Quy hoạch cần nhìn nhận di sản như một hệ thống đa chiều, trong đó di sản vật thể gắn liền mật thiết với văn hóa truyền thống, cảnh quan tự nhiên, ký ức và đời sống cộng đồng.

Về phương diện lý thuyết quy hoạch hiện đại, nhiều quan điểm trong quy hoạch và thiết kế đô thị nhấn mạnh cách tiếp cận dựa trên đặc trưng của địa điểm (place-based approach). Những nghiên cứu của Relph về bản sắc nơi chốn (place identity) và Norberg-Schulz về tinh thần nơi chốn (genius loci) đã tạo nền tảng lý luận cho cách tiếp cận này [5][6]. Theo đó, mọi can thiệp quy hoạch cần xuất phát từ việc nhận diện và tôn trọng bối cảnh, bản sắc riêng của từng địa điểm, thay vì áp dụng các mô hình phát triển mang tính đồng nhất. Quy hoạch cần tiếp cận di sản như một không gian văn hóa đặc thù, phải nhận diện và tôn trọng bối cảnh, bản sắc riêng của di sản.

Trong bối cảnh phát triển đô thị và du lịch diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, nhiều di tích lịch sử văn hóa đang chịu áp lực từ quá trình mở rộng không gian xây dựng, phát triển hạ tầng và khai thác du lịch. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng máy móc các phương pháp quy hoạch đô thị vào quy hoạch di tích có thể làm suy giảm tính nguyên gốc, chia cắt và phá vỡ mối quan hệ giữa di sản với cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa và cộng đồng. Quy hoạch di tích cần được tiếp cận theo nguyên tắc khác biệt, trong đó phương pháp và giải pháp quy hoạch được xác định trên cơ sở các giá trị và đặc trưng riêng của từng di sản, nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển.

Như vậy, tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích được hiểu là việc chuyển hóa những đặc trưng riêng có của di sản thành các nguyên tắc định hướng hoạt động quy hoạch. Theo đó, mọi quyết định quy hoạch phải xuất phát từ việc nhận diện đầy đủ các giá trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, cảnh quan và cộng đồng gắn với địa điểm, làm cơ sở lựa chọn phương pháp, nội dung và giải pháp quy hoạch phù hợp. Chính cách tiếp cận này tạo nên sự khác biệt căn bản giữa quy hoạch di tích và quy hoạch đô thị thông thường.

Cơ sở hình thành tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích

Từ các quan điểm trên, trong bài viết này có thể hiểu tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích bắt nguồn từ ba nhóm trụ cột nền tảng chính, đó là: (1) Tính thiêng, (2) Không gian thiêng, và (3) Cộng đồng tín ngưỡng.

Tính thiêng

Tính thiêng là giá trị tinh thần gắn liền với địa điểm, không gian và thực hành nghi lễ văn hóa của cộng đồng. Theo cách tiếp cận của UNESCO, giá trị của di sản bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể, trong đó các thực hành văn hóa và giá trị tinh thần là thành phần cấu thành bản sắc nơi chốn [3]. Với vai trò là trung tâm tôn giáo của vương quốc Champa, Mỹ Sơn từng là nơi tổ chức hành lễ, thờ tự của vương quốc Champa và có một vị trí tâm linh quan trọng, chỗ dựa tinh thần của người Chăm xưa. Trên cơ sở các bia ký Champa, kết quả khảo cổ học và phân tích chức năng kiến trúc của các công trình, có thể nhận thấy không gian nghi lễ tại Mỹ Sơn được tổ chức theo một trình tự tương đối chặt chẽ [8]. Đoàn hành lễ đi qua Gopura (tháp cổng) để thực hiện nghi thức thanh tẩy, tiếp đến Mandapa (nhà tiền tế) để chuẩn bị lễ vật và nghi thức, sau đó tiến vào Kalan (đền chính) thực hiện nghi lễ dâng cúng thần Shiva thông qua biểu tượng Linga–Yoni. Trình tự này cho thấy tổ chức không gian của đền tháp phục vụ trực tiếp cho nghi lễ tôn giáo của vương quốc Champa. Lễ cúng tế là một hệ thống nghi lễ Bà La Môn giáo (Ấn Độ giáo), nhằm tôn thờ thần Shiva (Bhadresvara) - vị thần bảo hộ vương quyền Champa, đồng thời khẳng định tính chính danh của nhà vua. Đây không chỉ là nghi lễ tôn giáo mà còn là nghi lễ chính trị của quốc gia [8]. Vì vậy, quy hoạch di tích không thể tiếp cận như một không gian tĩnh và xác định phạm vi tác động bằng những đường biên hay vị trí công trình. Mọi can thiệp phải dựa trên việc duy trì tính thiêng, gắn với quá trình thực hành nghi lễ.

Hình 1: Những nghệ sĩ tái hiện điệu múa trong nghi lễ tại Mỹ Sơn (nguồn: Tác giả)

Không gian thiêng

Từ góc nhìn quy hoạch, không gian thiêng là địa điểm được thiết lập đặc biệt để phục vụ cho các thực hành nghi lễ của cộng đồng. Nghi lễ là một chuỗi hành vi được mã hóa và thực hiện theo trật tự, tính chất quy phạm và lặp lại của nghi lễ đã gắn trực tiếp với hành vi cư lưu ổn định của các cộng đồng. Tính lặp lại theo trật tự giúp hình thành các thói quen, kết tạo kí ức và gắn kết cộng đồng với một giá trị chung [11]. Khác với không gian đô thị chủ yếu gắn với công trình nhân tạo, không gian thiêng thường của công trình tôn giáo tín ngưỡng tại Việt Nam thường gắn chặt với bối cảnh cảnh thiên nhiên, công trình di tích và thực hành nghi lễ. Nhiều không gian được khởi nguồn từ những địa điểm mang ý nghĩa biểu tượng như núi thiêng, suối thiêng, gò đất, cây cổ thụ, hoặc các yếu tố cảnh quan được cộng đồng có niềm tin linh thiêng. Theo Trần Lâm Biền, cấu trúc đền tháp Champa không chỉ là tổ hợp kiến trúc mà còn là sự biểu đạt vũ trụ quan và thế giới biểu tượng của Ấn Độ giáo, trong đó mỗi thành phần không gian đều mang ý nghĩa tôn giáo và nghi lễ [7]. Toàn bộ thánh địa được bao bọc bởi các ngọn núi thiêng. Mỗi nhóm di tích trong thánh địa được cấu trúc theo 03 công trình chức năng hành lễ chính: (1) Mandapa (Nhà tiền tế, nơi chuẩn bị nghi lễ), (2) Gopura (Tháp cổng, nơi thanh tẩy chuẩn bị lễ vật), (3) Kalan (Đền chính, thực hiện nghi lễ). Nhóm G được xây dựng trên một gò đồi tự nhiên vào khoảng giữa thế kỷ XII dưới triều vua Jaya Harivarman I và được xem là mô hình nguyên bản nhất phản ánh đầy đủ cấu trúc không gian của một nhóm đền tháp Champa. Nhóm bao gồm năm công trình: G1 (Kalan), G2 (Gopura), G3 (Mandapa), G4 (Kosagrha) và G5 (Posa), được bao bọc bởi tường Antarmandala đánh dấu ranh giới không gian thiêng. Cấu trúc này cho thấy bố cục nhóm tháp được hình thành trên cơ sở nghi lễ tôn giáo [4]. Mỗi thành phần đều đảm nhận một vai trò trong quá trình hành lễ và cùng tạo nên một chỉnh thể không gian thiêng thống nhất. Do đó, quy hoạch di tích Mỹ Sơn phải bảo tồn mối quan hệ hữu cơ giữa công trình di tích - thực hành tín ngưỡng - cảnh quan tự nhiên, tránh các can thiệp làm suy giảm sự linh thiêng của không gian.

Hình 2. Cấu trúc của nhóm tháp G (nguồn: Tác giả tổng hợp)

Cộng đồng tín ngưỡng

Cộng đồng tín ngưỡng là những nhóm người gắn bó với không gian thiêng thông qua niềm tin và các hoạt động thực hành nghi lễ. Đây không nhất thiết là tổ chức hành chính hay tôn giáo chính thức, nhưng họ là chủ thể văn hóa nắm giữ ký ức và duy trì tính thiêng của di sản. Họ sở hữu quyền lực văn hóa, chứ không phải quyền lực hành chính, nên tiếng nói của họ trong quy hoạch mang tính định hướng rất quan trọng. Cộng đồng gắn với di sản Mỹ Sơn bao gồm cộng đồng người Chăm, nghệ nhân, những người có liên quan đến di sản. Ngoài việc duy trì các giá trị văn hóa phi vật thể, cộng đồng còn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ tính toàn vẹn của di sản thông qua việc giám sát các hoạt động có nguy cơ làm xâm hại di tích, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và tham gia truyền dạy các tri thức liên quan đến tín ngưỡng Champa. Theo quan điểm của UNESCO và ICOMOS, cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể của di sản (heritage community), trực tiếp tham gia quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản [1], [2]. Vì vậy, trong quy hoạch di tích, cộng đồng cần được xem là một đối tác của quá trình quy hoạch, tham gia từ giai đoạn khảo sát, xác định giá trị, xây dựng phương án cho đến giám sát thực hiện quy hoạch. Dù không nằm trong bộ máy chính quyền, nhưng họ lại là nhóm người hiểu rõ nhất lịch sử, nghi lễ và cách sử dụng không gian di sản. Vì vậy, quy hoạch di tích phải đặt cộng đồng tín ngưỡng ở trung tâm tham vấn và đảm bảo họ tham gia vào quá trình quy hoạch, quản lý và phát huy giá trị di sản.

Hình 3. Nghệ nhân địa phương tham gia công tác tu bổ tại Mỹ Sơn (nguồn: Tác giả tổng hợp)

Như vậy, ba trụ cột nền tảng nêu trên không chỉ phản ánh bản chất của di sản mà còn trực tiếp chi phối phương pháp tiếp cận và thực hành quy hoạch. Nói cách khác, mỗi trụ cột sẽ được chuyển hóa thành các nguyên tắc và giải pháp quy hoạch cụ thể trên các phương diện như phương pháp quy hoạch, xác định phạm vi có thể tác động, tổ chức không gian, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng và sự tham gia của cộng đồng. Đây chính là cơ sở cốt lõi để hình thành tính chuyên biệt trong thực hành quy hoạch di tích tại Việt Nam.

Tính chuyên biệt trong quy hoạch di tích

Phương pháp lịch sử và khảo cổ học

Trong quy hoạch đô thị, việc phân tích hiện trạng thường thông qua phương pháp khảo sát tập trung vào các yếu tố hữu hình và có thể định lượng như: Hình thái công trình, diện tích đất xây dựng, hạ tầng kỹ thuật, môi trường cảnh quan.

Đối với quy hoạch di tích, việc đánh giá hiện trạng không thể chỉ dựa vào những gì quan sát thấy ở hiện trường, mà phải truy ngược về lịch sử để hiểu đầy đủ không gian thiêng, tính thiêng, cộng đồng tín ngưỡng gắn với di sản. Phương pháp lịch sử và khảo cổ học là kỹ thuật phân tích quan trọng trong phân tích hiện trạng bằng cách xác định các lớp thời gian, sự hình thành và biến đổi của giá trị nguyên gốc của di sản. Phương pháp này xuất phát từ hướng tiếp cận lịch sử và tiến hóa, đặc biệt trong khảo cổ học và bảo tồn di sản cảnh quan. Hiện trạng một khu di tích bao gồm cả các dấu tích vật thể còn lại và những yếu tố phi vật thể, ngữ cảnh lịch sử đã tạo ra nó. Do vậy, phương pháp phân tích chính là truy cứu di tích trong quá khứ dựa trên nghiên cứu tài liệu lịch sử, khảo cổ kết hợp với khảo sát thực địa hiện có. Tại Mỹ Sơn, công tác lập quy hoạch phải dựa vào kết quả của các đợt khai quật khảo cổ học, đối chiếu với những dấu tích đền tháp đã phát lộ, để phỏng đoán cấu trúc các di tích chưa khai quật. Đây là cơ sở để có thể dự đoán các dấu tích chưa phát lộ, hoặc khẳng định không có sự chồng lấn giữa công trình mới (dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật). Trong quá trình lập quy hoạch Mỹ Sơn giai đoạn 2008–2020, cuộc khảo cổ thăm dò khảo cổ đã phát hiện nền móng công trình và hiện vật trong lòng đất tại khu vực bảo vệ II (khu nhà Đôi). Những phát hiện này lập tức được tích hợp vào nội dung đánh giá hiện trạng để điều chỉnh phương án quy hoạch (kiến nghị mở rộng khu vực bảo vệ I, thay đổi vị trí xây dựng công trình phụ trợ ra ngoài cổng để tránh chồng lấn di chỉ khảo cổ) [10].

Xác định giới hạn không gian quy hoạch dựa trên không gian thiêng

Trong quy hoạch, ranh giới lập quy hoạch thường được xác định chủ yếu theo ranh giới địa chính hoặc ranh giới hành chính có sẵn, dựa trên các quy hoạch cấp trên (ví dụ: ranh giới đô thị theo quyết định hành chính, ranh giới khu phát triển mới theo quy hoạch được phê duyệt). Tiếp cận này có tính kỹ thuật và pháp lý, ít xét đến các yếu tố địa hình cảnh quan văn hóa.

Trong quy hoạch di tích, giới hạn không gian cần được xác định dựa trên không gian thiêng. Thung lũng Mỹ Sơn có phạm vi tự nhiên rõ rệt, được bao bọc bởi các dãy núi và rừng nguyên sinh. Người Chăm xưa chọn thung lũng này làm Thánh địa một phần vì sự cô lập và tôn nghiêm mà thiên nhiên mang lại. Do đó, khi quy hoạch bảo tồn, phạm vi di sản Mỹ Sơn được xác định trùng với ranh giới vùng không gian thiêng đó, bao gồm cả khu đền tháp và vùng rừng núi bao quanh.

Ngoài ra giới gian không gian thiêng cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn bố trị một công trình mới. Công trình mới phải nằm ngoài phạm vi và không tác động đến không gian thiêng. Nhà Biểu diễn nằm chân nhóm H, trung tâm của các nhóm đền tháp Mỹ Sơn, các hoạt động dịch vụ du lịch không phù hợp với không gian linh thiêng của di sản, cần phải dịch chuyển ra ngoài.

Định hướng cấu trúc không gian phi tuyến tính

Quy hoạch đô thị thường định hướng cấu trúc phân khu chức năng liên hoàn (khu ở, khu công cộng, khu thương mại…) và kết nối bởi mạng lưới giao thông tuyến tính. Nhiều đô thị mới còn thiết lập dựa trên cấu trúc không gian đối xứng qua các tuyến đại lộ cảnh quan và quảng trường trung tâm.

Quy hoạch di tích lại không thể áp dụng mô hình cấu trúc đô thị nói trên, mà phải tôn trọng cấu trúc không gian thiêng nguyên bản vốn phi tuyến tính và bất đối xứng. Cách tổ chức này phản ánh trật tự tín ngưỡng hơn là trật tự công năng, và chịu chi phối bởi các yếu tố mang tính biểu tượng như điểm tụ linh khí, núi – nước, tầm nhìn, trục lễ nghi, không gian chuyển tiếp. Quần thể Mỹ Sơn gồm nhiều cụm đền tháp (A, B, C, D, G, H…) nằm rải rác trong thung lũng, mỗi cụm có từ một đến vài tháp bao quanh một đền thờ chính. Các cụm này không nối liền đường trục với nhau, mà ngăn cách bởi khoảng rừng cây và suối. Cách bố trí “đa cụm nghi lễ độc lập” này phản ánh vũ trụ quan Champa: mỗi cụm là một thế giới thu nhỏ tượng trưng cho một tiểu vũ trụ, có trục thần đạo và nghi lễ riêng. Không gian toàn khu thánh địa vì vậy mang tính phi tuyến, không có một trục trung tâm duy nhất hay quảng trường chung. Việc kết nối giữa các cụm tháp xưa kia có thể chỉ là những lối mòn nhỏ cho tu sĩ, chứ không phải đường lớn.

Do đó, định hướng cấu trúc không gian quy hoạch Mỹ Sơn phải dựa trên các cụm tín ngưỡng và địa hình tự nhiên hơn là tạo trục giao thông nhân tạo. Toàn bộ không gian quy hoạch vì thế phi đối xứng và mềm dẻo theo địa hình, tận dụng tối đa lối mòn tự nhiên và thảm cỏ, thay vì đường thẳng cứng nhắc. Nguyên tắc quy hoạch là mỗi cụm tháp là một thực thể độc lập trong không gian, khách tham quan di chuyển theo tuyến vòng tròn để lần lượt tiếp cận từng cụm qua các lối đi bộ nhỏ giữa rừng. Điều này có phù hợp với việc bảo tồn tính thiêng của di sản, du khách có cảm giác như lạc vào những “thế giới tín ngưỡng” riêng khi đến mỗi cụm, đúng như triết lý không gian ban đầu.

Quy hoạch sử dụng đất linh hoạt theo giá trị di sản

Trong quy hoạch đô thị, đất đai thường được phân khu theo chức năng kinh tế kỹ thuật: đất ở, đất công cộng, đất thương mại, đất công nghiệp, đất giao thông, đất cây xanh,... Cách phân loại này nhằm tối ưu hóa công năng và hiệu quả sử dụng đất, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội và quản lý đô thị.

Đối với quy hoạch di tích, cách tiếp cận về sử dụng đất cần phải thay đổi. Đất trong khu di sản không thể phân theo chức năng cứng nhắc, mà thay vào đó được phân linh hoạt theo mức độ yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị. Tiêu chí phân định chủ yếu dựa trên giá trị văn hóa lịch sử và tính nguyên gốc của từng khu vực. Giá trị của đất trong khu di sản không được xác định bằng giá trị thương mại mà bằng giá trị lịch sử văn hóa, khảo cổ và cảnh quan.

Tại Mỹ Sơn, quy hoạch sử dụng đất cần xác định trên cơ sở các vùng chức năng đặc thù:

  • Vùng lõi (khu vực bảo vệ I): Cần cân nhắc, lựa chọn quy hoạch sử dụng đất công trình mới phục vụ phát huy giá trị như điểm ngắm cảnh từ trên cao, cầu qua suối nhỏ và tuyến đường kết nối phục vụ hoạt động tham quan. Các công trình dịch vụ quy mô khá lớn như nhà biểu diễn, nhà hàng cần đưa ra ngoài vùng này. Nguyên tắc là lựa chọn vị trí các công trình này phải được khảo cổ minh chứng không chồng lấn dấu tích trong lòng đất.  
  • Vùng đệm (khu vực bảo vệ II): Tại đây cho phép quy hoạch sử dụng đất công trình hạ tầng cần thiết phục vụ quản lý du lịch như nhà điều hành, trung tâm thông tin, bảo tàng, nhà ở chuyên gia, nhà hàng, bãi đỗ xe với quy mô khiêm tốn. Nguyên tắc là các công trình này phải hạn chế tối đa tác động đến địa hình cảnh quan tự nhiên và giá trị di sản.
  • Vùng không gian kết nối (khu vực nghiên cứu mở rộng): Kết nối với các di tích có liên quan vương quốc Champa cổ, bao gồm thành Trà Kiệu, trung tâm phật giáo Đồng Dương, đô thị cổ Hội An, Cù Lao Tràm, sông Thu Bồn và các làng truyền thống (làng gốm sứ La Tháp, dâu tằm Truy Trinh, dệt Mã Châu…) [9]. Trên cơ sở đó, định hình các tuyến du lịch di sản văn hóa phục vụ khách tham quan trải nghiệm, đồng thời phát triển kinh tế địa phương theo hướng du lịch bền vững.

Cách phân bổ đất đai như trên hướng tới hai mục tiêu cơ bản: (1) tối thiểu hóa các can thiệp vật lý vào không gian di sản nhằm bảo vệ tính nguyên vẹn của di tích và kiểm soát chặt chẽ hoạt động xây dựng mới; (2) tối đa hóa các kết nối không gian, văn hóa và du lịch để phát huy giá trị của di sản. Khác với quy hoạch đô thị vốn hướng tới khai thác tối đa quỹ đất cho phát triển, quy hoạch di tích ưu tiên sự cân bằng giữa bảo tồn và phát huy giá trị, chấp nhận quan điểm sử dụng đất theo giá trị văn hóa thay vì giá trị thương mại. Nhờ đó, di sản có thể duy trì tính linh thiêng, không gian trang nghiêm và hạn chế nguy cơ thương mại hóa, đồng thời phát huy bền vững các giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan.

Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật phục vụ bảo tồn di sản

Quy hoạch đô thị coi hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, viễn thông, bãi đỗ xe…) là xương sống cho cấu trúc không gian. Hạ tầng thường được thiết kế đi trước một bước, mở đường cho các dự án đầu tư và mở rộng đô thị.

Trong quy hoạch di tích, hạ tầng kỹ thuật giữ vai trò hỗ trợ chứ không chi phối không gian di sản. Mục tiêu hàng đầu là bảo tồn giá trị di sản, nên hạ tầng phải phục vụ cho việc này, thay vì vì phục vụ phát triển bất động sản hay hoạt động kinh tế. Điều đó có nghĩa là mọi tuyến đường, công trình kỹ thuật đưa vào khu di tích đều phải tối giản, khiêm tốn và tuyệt đối không làm tổn hại cảnh quan, giá trị di sản.

Đối với di sản Mỹ Sơn, không quy hoạch các đường lớn chạy quanh các nhóm tháp. Chỉ có duy trì một tuyến đường giao thông nhỏ trên cơ sở đường hiện có cho xe điện dài khoảng 2 km từ cổng đến gần khu tháp, và từ đó du khách đi bộ trên lối đi bộ lát đá hoặc đường đất tự nhiên để tham quan. Các lối đi bộ được thiết kế tránh các nền móng, dấu tích di sản, và có dự trữ khoảng cách bảo vệ quanh mỗi di tích. Hệ thống dây điện phải được ngầm hóa, trạm điện và cột đèn phải đặt xa khu tháp và ngụy trang kỹ lưỡng. Ánh sáng điện ban đêm ở mức vừa phải, chủ yếu để an ninh, không làm thay đổi cảm quan về di tích. Tận dụng tối đa dòng suối Thẻ tự nhiên để tiêu thoát nước, không xây dựng cống bê tông, chỉ gia cố chống xói mòn những đoạn cần thiết. Tất cả các giải pháp đều nhằm giảm thiểu can thiệp vật lý và tránh công trình hóa để đảm bảo tính nguyên vẹn của môi trường cảnh quan di sản.

Khu bãi đỗ xe chính được đặt ở bên ngoài cổng, cách khu đền tháp hơn 1 km, sau đó du khách chuyển sang sử dụng xe điện. Bằng cách đó, ô tô và xe lớn không vào sâu vùng bảo vệ di sản, vừa bảo vệ nền đất yếu quanh các tháp khỏi rung chấn, vừa giữ không gian yên tĩnh. Các hạ tầng khác như nhà vệ sinh, điểm dịch vụ thương mại cũng được giấu khuất sau tán cây, xây thấp tầng, dùng vật liệu gỗ, tre để hòa vào cảnh quan. Quy hoạch hạ tầng Mỹ Sơn được lồng ghép vào như một phần của giá trị di sản, thay vì tách biệt hay phá vỡ nó. Chính vì vậy, những du khách đến Mỹ Sơn sẽ ấn tượng bởi cảm giác hoang sơ, tĩnh lặng, thâm nghiêm nhờ hạ tầng được hòa mình vào thiên nhiên và kiểm soát tốt.

Hình 4. Cấu trúc không gian di sản Mỹ Sơn (nguồn: Tác giả tổng hợp)

Tham gia của cộng đồng địa phương

Quy hoạch đô thị có giai đoạn lấy ý kiến cộng đồng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc lấy ý kiến vẫn có tính hình thức, chưa huy động được nguồn lực cộng đồng.

Đối với quy hoạch di sản, nơi không gian tín ngưỡng của cộng đồng, cần gắn liền với cộng đồng địa phương, đặc biệt là cộng đồng tín ngưỡng. Do đó cộng đồng tín ngưỡng giữ vai trò trung tâm, còn chính quyền và chuyên gia đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và trao quyền. Mọi quyết định can thiệp cần có thảo luận, chấp thuận của cộng đồng. Tính chuyên biệt ở đây thể hiện qua việc quy hoạch di tích là sự giao thoa liên ngành vừa phải đảm bảo khoa học quy hoạch, vừa tuân thủ nguyên tắc bảo tồn và tôn trọng ý kiến của cộng đồng văn hóa tín ngưỡng. Ví dụ, khi lên phương án trùng tu nhóm tháp G vào năm 2020, đơn vị tư vấn đã mời nghệ nhân Chăm tham gia ý kiến về nghi thức hành lễ và cách sử dụng vật liệu, thay vì chỉ dựa vào kỹ sư xây dựng. Chính sự tham gia thành viên cộng đồng tín ngưỡng và cách tiếp cận này giúp cho công tác quy hoạch Mỹ Sơn huy động hiệu quả nguồn lực, sức mạnh của cộng đồng.

Kết luận

Tính chuyên biệt của quy hoạch di tích không thể truyền tải hết trên các tấm bản đồ quy hoạch tĩnh, mà nằm ở nhận thức tiếp cận và quan điểm ưu tiên bảo tồn tinh thần di sản trong mọi quyết định can thiệp. Trường hợp di sản Mỹ Sơn cho thấy tính chuyên biệt cần được xem là nguyên tắc nền tảng trong công tác quy hoạch quần thể di tích lịch sử văn hóa tại Việt Nam. Trải qua hơn 20 năm từ khi được vinh danh Di sản thế giới, di sản Mỹ Sơn cần một cách tiếp cận quy hoạch đặc thù, gắn với ba trụ cột chính: Tính thiêng, không gian thiêng và cộng đồng tín ngưỡng. Khi các trụ cột này được nhận diện và tích hợp vào quá trình thực hành quy hoạch, có thể tạo được sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, đồng thời gìn giữ bản sắc của di sản.

Như vậy quy hoạch di tích muốn thành công thì phải đặt di sản vào trung tâm của mọi hành động. Tính chuyên biệt không làm cho giải pháp quy hoạch kém đi tính khoa học hay hiệu quả, mà ngược lại giúp phát huy giá trị đặc thù của mỗi di sản, biến nó thành động lực phát triển bền vững cho địa phương. Mỗi di sản là một địa điểm văn hóa đặc trưng, hãy quy hoạch nó bằng tư duy “cá thể hóa” thay vì “đồng dạng hóa”. Quy hoạch di tích không phải là quy hoạch một khu đất có di sản, mà là quy hoạch một địa điểm lịch sử văn hóa sống, trong đó giá trị vật thể, phi vật thể, cảnh quan thiên nhiên và cộng đồng cùng kiến tạo nên bản sắc riêng.

Tài liệu tham khảo

1.       ICOMOS. (2011). The Valletta Principles for the Safeguarding and Management of Historic Cities, Towns and Urban Areas.

2.       UNESCO. (1999). My Son Sanctuary World Heritage Nomination Dossier. Hồ sơ đề cử Di sản Thế giới Mỹ Sơn (UNESCO).

3.       UNESCO. (2011). Recommendation on the Historic Urban Landscape. Khuyến nghị của UNESCO về Cảnh quan đô thị lịch sử.

4.       Parmentier, H. (1909). Inventaire descriptif des monuments cams de l'Annam. Ernest Leroux.

5.       Norberg-Schulz, C. (1980). Genius loci: Towards a phenomenology of architecture. Rizzoli.

6.       Relph, E. (1976). Place and placelessness. Pion.

7.       Trần Lâm Biền. (2004). Mỹ Sơn – Cấu trúc và Biểu tượng. NXB Văn hóa Thông tin.

8.       Ngô Văn Doanh. (2005). Thánh địa Mỹ Sơn. NXB Trẻ.

9.       Ban quản lý di sản Mỹ Sơn. (2013). Di sản Văn hóa Thế giới Mỹ Sơn. NXB Hồng Đức.

10.    Viện Bảo tồn di tích. (2010). Thuyết minh Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích Mỹ Sơn - Giai đoạn 2008-2020.

11.    Nguyễn Anh Cường. (2026). Không gian thiêng - Một số trần thuật. https://xhubvietnam.com.

12.    Lê Đình Phụng. (2017). Khảo cổ Champa: Khai quật và phát hiện. NXB Khoa học xã hội.

 

Những tư liệu quý từ Pháp mở thêm hướng tiếp cận mới cho giới nghiên cứu

Việc xuất hiện các văn kiện ngoại giao, báo cáo quân sự và ấn bản chính thức được lưu giữ tại Pháp đã bổ sung nguồn tư liệu có giá trị cho công tác nghiên cứu, lưu trữ tại Việt Nam. Đây được xem là bước tiến đáng chú ý trong hành trình tiếp cận các nguồn sử liệu gốc, góp phần làm phong phú thêm kho tư liệu phục vụ nghiên cứu khoa học và bảo tồn di sản tư liệu.

Tái thiết Hồ Gươm: Giữa khát vọng phát triển, trách nhiệm gìn giữ cấu trúc đô thị

Hồ Gươm không cần xây dựng thêm để trở thành biểu tượng. Nó đã là biểu tượng từ rất lâu trước mọi ý tưởng xây dựng mới. Điều chúng ta cần làm là tổ chức lại không gian để những giá trị đã làm nên biểu tượng ấy được nhìn thấy rõ hơn, được sử dụng tốt hơn, được trân trọng hơn và được truyền lại một cách bền vững cho 50 hay 100 năm tới.

Một số suy nghĩ chuyên môn về đồ án quy hoạch khu vực Hồ Gươm và phụ cận

Từ góc nhìn của một kiến trúc sư quan tâm đến cải tạo, chỉnh trang và phát triển đô thị, tôi xin trao đổi một số suy nghĩ về định hướng quy hoạch khu vực Hồ Gươm và phụ cận.

Tái thiết không gian khu vực Hồ Hoàn Kiếm - Nhìn lại giải pháp của một số hạng mục công trình

Như các phương tiện truyền thông chính thống toàn quốc hiện đang đưa tin Thành phố Hà Nội đang chính thức lấy ý kiến cộng đồng (từ ngày 07/9 đến 26/9/2026) về “Phương án điều chỉnh cục bộ quy hoạch, tái thiết và tái cấu trúc không gian khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận với tầm nhìn lên tới 100 năm” (gọi tắt là: Phương án).

Quy hoạch không gian Hồ Gươm cần tuân thủ nghiêm ngặt theo lý thuyết "Tập tích lịch sử"

Không gian Hồ Gươm không chỉ là một cấu trúc cảnh quan tự nhiên mà là kết cấu đa tầng văn hóa, lưu giữ dấu ấn liên tục từ thời Phong kiến, thuộc địa Pháp, thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc xen kẽ chiến tranh đến đương đại. Việc hạ giải đồng loạt các công trình thuộc các giai đoạn lịch sử khác nhau để nhường không gian cho quảng trường, công trình biểu tượng mới hay hạ tầng ngầm quy mô lớn…có nguy cơ phá vỡ tính liên tục của lịch sử và làm đứt gãy ký ức đô thị.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh