Vật liệu xây dựng xanh - Chìa khóa cho kiến trúc ứng phó biến đổi khí hậu

Vật liệu xây dựng xanh - Chìa khóa cho kiến trúc ứng phó biến đổi khí hậu

(Vietnamarchi) - (KTVN 258) Trong hành trình kiến tạo những đô thị bền vững, vật liệu xây dựng đang trở thành tâm điểm chuyển đổi. Không còn là vấn đề kỹ thuật đơn thuần, vật liệu hôm nay chính là định hình tương lai phát triển xanh - an toàn - tiết kiệm năng lượng cho đô thị Việt Nam.
09:00, 07/11/2025

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - THÁCH THỨC HIỆN HỮU VỚI KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ

Nắng nóng cực đoan, nước biển dâng, thiên tai bất thường… đang ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đô thị và chất lượng công trình xây dựng. Kiến trúc, với vai trò định hình không gian sống, buộc phải thích ứng để đảm bảo an toàn, bền vững và tiết kiệm tài nguyên.

Trong bối cảnh đó, vật liệu xây dựng trở thành yếu tố nền tảng, không chỉ quyết định đến chất lượng và tuổi thọ công trình mà còn ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng năng lượng và mức độ phát thải khí nhà kính.

Theo nhiều chuyên gia, việc lựa chọn vật liệu không còn đơn thuần là kỹ thuật mà chính là lựa chọn định hướng phát triển đô thị, thể hiện tầm nhìn dài hạn của quốc gia trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Lịch sử kiến trúc Việt Nam từng ghi nhận nhiều công trình thích nghi tuyệt vời với khí hậu nhờ sử dụng vật liệu tự nhiên như tre, gỗ, đất, ngói… Những vật liệu này không chỉ thân thiện môi trường mà còn giúp công trình điều hòa nhiệt độ, thông gió tự nhiên hiệu quả.

Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa đã đưa xi măng, kính, thép, bê tông cốt thép trở thành vật liệu chủ đạo. Dù mang lại hiệu quả xây dựng cao, các vật liệu này lại tiêu tốn nhiều năng lượng và phát thải lượng lớn CO₂ trong quá trình sản xuất.

Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), ngành xây dựng và vật liệu chiếm tới 37% tổng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Riêng sản xuất xi măng đã đóng góp gần 8% lượng CO₂ toàn cầu - con số đáng báo động.

Tại Việt Nam, sản lượng xi măng năm 2024 vượt 120 triệu tấn, tương ứng với hơn 70 triệu tấn CO₂ thải ra môi trường. Nếu không có chiến lược chuyển đổi, đây sẽ là rào cản lớn cho mục tiêu Net Zero 2050 mà Chính phủ đã cam kết tại COP26.

Để hiểu rõ hơn về vai trò của vật liệu trong kiến trúc thích ứng với biến đổi khí hậu, Viện Kiến trúc Quốc gia đang thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng vật liệu xanh trong thiết kế công trình.

ThS.KSXD Phạm Quang Khải, Trưởng phòng Nghiên cứu Ứng dụng Khoa học Công nghệ Kiến trúc, chia sẻ: “Trong kiến trúc hiện đại, vật liệu xây dựng đóng vai trò cốt lõi là nhân tố nền tảng. Nó không chỉ quyết định chất lượng công trình mà khi ta dùng đúng còn giúp tối ưu hóa hiệu quả và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Song song câu chuyện nói nhiều về kiến trúc xanh, công trình carbon thấp, bền vững, thì vật liệu xanh cần được chú trọng nhiều hơn. Để ứng phó với biến đổi khí hậu, ngành Xây dựng không chỉ tiếp tục phụ thuộc vào mô hình vật liệu nặng - nhiệt dung cao - phát thải cao như hiện nay. Cần một hệ sinh thái vật liệu mới: thông minh - tái tạo (có sẵn) - ít phát thải - phù hợp điều kiện tự nhiên, kiến trúc, văn hóa bản địa, để thúc đẩy vật liệu xây dựng xanh, vai trò của chính sách Nhà nước là then chốt. Từ sau Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc lần thứ 26 (COP26), vấn đề các cơ chế chính sách, quy chuẩn, tiêu chuẩn cho công trình xanh, đặc biệt vật liệu xanh đã nhận được sự quan tâm mạnh mẽ từ giới chuyên môn và quản lý, nhà đầu tư, thiết kế kiến trúc, cũng như không thể tách rời khỏi bối cảnh tự nhiên và yêu cầu phát triển bền vững. Kiến trúc sư, Kỹ sư không chỉ đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư mà còn phải nghiên cứu kỹ các yếu tố khí hậu, điều kiện tự nhiên, văn hóa kiến trúc địa phương, đồng thời hiểu và áp dụng đúng các cơ chế chính sách, các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về thiết kế xanh, vật liệu xanh.”

CẦN “BÀN TAY NHÀ NƯỚC” ĐỂ DẪN DẮT THỊ TRƯỜNG

Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế từ các nước châu Âu, Singapore..., chuyên gia Phạm Quang Khải nhấn mạnh vai trò quan trọng của Nhà nước: “Nếu không có chính sách khuyến khích mạnh mẽ thậm chí là bắt buộc, thị trường sẽ không tự dịch chuyển nhanh. Từ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, đến quy hoạch, thiết kế, cấp phép công trình, sản xuất, vận chuyển vật liệu... cho đến ưu đãi về thuế - tín dụng, tất cả đều cần được đồng bộ để tạo sức bật cho vật liệu xanh.”

Chuyên gia kiến nghị xây dựng Lộ trình Quốc gia về Chuyển đổi vật liệu xây dựng xanh song song với Lộ trình cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (Net Zero) được Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra tại COP26, với các mốc trung hạn và dài hạn. Trong đó, quy định rõ tỷ lệ sử dụng vật liệu xanh bắt buộc trong các công trình đầu tư công, tỷ lệ ưu đãi cho các công trình khác, định hướng phát triển hệ sinh thái vật liệu xanh mới và kế hoạch loại bỏ dần các loại vật liệu phát thải cao.

“Để áp dụng vật liệu xanh một cách có hiệu quả. Trước tiên cần nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, văn hóa, kiến trúc bản địa xây dựng các ý tưởng, giải pháp thiết kế, từ đó mới xác định loại vật liệu phù hợp.”, ông Khải chia sẻ.

Chuyên gia cũng cho rằng, để vật liệu xanh thực sự được ứng dụng rộng rãi, hiệu quả, cần xây dựng hệ thống cơ chế, pháp lý khuyến khích rõ ràng và mạnh mẽ, đồng thời cũng cần bắt buộc trong một số lĩnh vực cụ thể, và có cơ chế kiểm soát - đánh giá bắt buộc trong quá trình thực hiện các chính sách trên.
Trao đổi với phóng viên, TS Tô Văn Trường, Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Miền Nam - khẳng định: “Không thể nói đến đô thị xanh, đô thị thông minh, nếu chúng ta vẫn xây dựng bằng những vật liệu cũ - phát thải cao, hấp nhiệt lớn và không bền vững. Vật liệu chính là khâu đầu tiên, là nền móng, là ‘linh hồn’ của kiến trúc ứng phó biến đổi khí hậu.”

Theo TS, quá trình quy hoạch không thể tách rời lựa chọn vật liệu. Vật liệu quyết định tới mật độ xây dựng, hệ số hấp thụ nhiệt đô thị, khả năng thích ứng với thiên tai, hiệu quả sử dụng năng lượng, và cả tuổi thọ công trình.

“Muốn phát triển đô thị theo hướng bền vững và đáng sống, thì ngay từ quy hoạch - từ khâu cấp phép, thiết kế cho đến thi công - phải có sự ràng buộc sử dụng vật liệu xanh. Và điều này cần được luật hóa, không thể chỉ là phong trào tự nguyện.”
TS cũng đề xuất lồng ghép tiêu chí vật liệu xanh vào quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị và xây dựng hệ thống đánh giá công trình gắn với phát thải vật liệu. Điều này sẽ giúp phân loại các khu vực phát triển xanh, từ đó tạo lợi thế về cấp phép, tài chính và tín dụng.

Việc xây dựng và phổ biến các hệ thống chứng chỉ “Công trình Xanh” sẽ giúp định lượng hóa giá trị bền vững, tạo ra lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy các chủ đầu tư chuyển hướng vì lợi ích kinh tế.

Xây dựng một lộ trình chuyển đổi quốc gia rõ ràng. Để đảm bảo sự thay đổi diễn ra đồng bộ và hiệu quả, Việt Nam cần xây dựng một “Lộ trình Quốc gia về chuyển đổi vật liệu xây dựng” với các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường theo từng giai đoạn 5 năm, 10 năm. Lộ trình này cần xác định rõ: tỷ lệ vật liệu tái chế bắt buộc trong các công trình công, các loại vật liệu cần ưu tiên nghiên cứu và sản xuất trong nước, cũng như kế hoạch loại bỏ dần các vật liệu gây ô nhiễm cao. Một lộ trình rõ ràng sẽ là kim chỉ nam cho cả cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu cùng phối hợp hành động, đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi để đáp ứng mục tiêu Net Zero 2050.

Kiến trúc ứng phó biến đổi khí hậu phải bắt đầu từ gốc - chính là vật liệu. Chọn vật liệu xanh nghĩa là chọn một lộ trình phát triển văn minh và có trách nhiệm. Con đường này tuy có nhiều thách thức về chi phí và kỹ thuật, nhưng với sự quyết tâm chính trị, sự đổi mới của doanh nghiệp và sự thay đổi trong nhận thức của cộng đồng, chúng ta hoàn toàn có thể vượt qua.

Với thế giới, đó là xu thế không thể đảo ngược; với Việt Nam, đó là sự lựa chọn sống còn. Đầu tư cho vật liệu xây dựng xanh hôm nay chính là đầu tư cho sự sống của các thế hệ mai sau./.

Phòng ngừa cháy nổ trong công trình lắp đặt trạm sạc xe điện: Điều kiện hiện tại, rủi ro và các giải pháp tích hợp

(KTVN 262) Thực trạng công tác phòng ngừa cháy trong lắp đặt trạm sạc xe điện phản ánh một nghịch lý. Một mặt, hạ tầng sạc EV đã mở rộng nhanh chóng và ngày càng được công nhận là một thành phần thiết yếu của giao thông ít phát thải carbon, hệ thống năng lượng thông minh và các chiến lược phát triển bền vững đô thị [1, 22]. Mặt khác, sự phát triển thực tế của công tác phòng ngừa cháy không phải lúc nào cũng theo kịp tốc độ triển khai hạ tầng, đặc biệt liên quan đến sạc công suất cao, hành vi cháy liên quan đến pin, giám sát thông minh và khả năng chống chịu mạng - vật lý. Kết quả, ngày nay nhiều cơ sở sạc đang vận hành trong một môi trường an toàn mang tính chuyển tiếp: chúng có thể đáp ứng các yêu cầu thiết kế điện truyền thống, nhưng vẫn thiếu kiến trúc phòng ngừa cháy tích hợp cần thiết cho các rủi ro vận hành mới.

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

(KTVN 262) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng cấp bách, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí metal của ngành giao thông vận tải, định hướng phát triển hệ thống giao thông vận tải xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050.Quá trình đô thị hóa nhanh, dân số trẻ, tăng trưởng kinh tế ổn định và nhu cầu giảm ô nhiễm không khí là những động lực chính thúc đẩy chuyển đổi sang xe điện. Không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia trong khu vực đã cam kết giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy kinh tế xanh, tạo nền tảng chính sách thuận lợi cho phát triển phương tiện giao thông điện.

Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

(KTVN 262) Trước thực trạng phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, khó lường, phương tiện giao thông điện (EV, e-bike, e-motorbike) xuất hiện như một lựa chọn hàng đầu cho mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Nhưng cùng với những thế mạnh của chúng, các vụ cháy đã xảy ra trên thế giới và Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp bách về đảm bảo an toàn cháy cho các công trình, đặc biệt tại các khu vực không gian kín như tầng hầm nhà cao tầng hay khu dân cư. Để giải quyết những rủi ro này, cần có một cách tiếp cận toàn diện bao gồm các biện pháp kỹ thuật và quản lý, từ đánh giá rủi ro khác biệt đến các cơ chế an toàn xuyên suốt. Tham luận đánh giá thực trạng hạ tầng và khoảng trống pháp lý tại Việt Nam, phân tích các định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy (PCCC) cần thiết để ứng phó hiệu quả với những rủi ro cháy nổ liên quan đến khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe trong các tầng hầm nhà chung cư và khu dân cư tại Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và đặc thù trong nước, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách về kỹ thuật, quản lý và vận hành nhằm đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

(KTVN 262) Sự chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe chạy nguyên liệu hóa thạch sang xe chạy điện là xu thế tất yếu của giao thông xanh, quá trình chuyển đổi này hiện đang diễn ra nhanh chóng, tạo ra những thách thức không nhỏ đối với hệ thống hạ tầng đô thị, trong đó đặc biệt là thách thức đối với hạ tầng bến, bãi đỗ xe tại các đô thị ở nước ta. Một ví dụ điển hình là vấn đề “Hạ tầng xe điện và chung cư, nhà ở cao tầng” đang trở thành một trong những điểm nóng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ hạ tầng kỹ thuật đô thị, tập trung vào các vấn đề về quy hoạch không gian, các vấn đề về kỹ thuật đối với bến, bãi đỗ xe, trạm sạc để đáp ứng nhu cầu đặt ra của quá trình chuyển đổi phương tiện giao thông sang xe điện.

Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ cần cách tiếp cận đồng bộ

(KTVN 262) Sự gia tăng của xe điện trong các đô thị lớn đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích ứng của hạ tầng kỹ thuật và hệ thống quản lý. Điều này tạo ra một khoảng trống mà trong đó, rủi ro không đến từ bản thân công nghệ, mà đến từ sự thiếu đồng bộ giữa phát triển phương tiện và tổ chức không gian đô thị.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh