Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Ngày 8/7, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
15:47, 10/07/2024

Định hướng phân bố hợp lý không gian, phân vùng quản lý chất lượng môi trường

Với mục tiêu của Quy hoạch nhằm chủ động phòng ngừa, kiểm soát được ô nhiễm và suy thoái môi trường; phục hồi và cải thiện được chất lượng môi trường; ngăn chặn suy giảm và nâng cao chất lượng đa dạng sinh học, nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân trên cơ sở sắp xếp, định hướng phân bố hợp lý không gian, phân vùng quản lý chất lượng môi trường; định hướng thiết lập các khu bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; hình thành các khu xử lý chất thải tập trung cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh; định hướng xây dựng mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường cấp quốc gia và cấp tỉnh; phát triển kinh tế - xã hội bền vững theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, hài hòa với tự nhiên và thân thiện với môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nâng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên khoảng 6,7 triệu ha

Đến năm 2030 sẽ tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, nâng cao chất lượng đa dạng sinh học; nâng tổng diện tích hệ thống khu bảo tồn trên phạm vi toàn quốc dự kiến đạt khoảng 6,7 triệu ha.

Chỉ tiêu cụ thể đối với các đối tượng về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được xác định trong Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đối với bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học: Định hướng bảo tồn giá trị tự nhiên và đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên nhằm phục hồi và duy trì các hệ sinh thái tự nhiên, ngăn chặn xu hướng suy giảm đa dạng sinh học trên cơ sở củng cố, mở rộng, thành lập mới và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn thiên nhiên, hành lang đa dạng sinh học, khu vực đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên quan trọng, vùng đất ngập nước quan trọng và cơ sở bảo tồn để lưu giữ, bảo tồn và phát triển nguồn gen đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm, mẫu giống cây trồng và vật nuôi.

Thiết lập đồng bộ hệ thống khu xử lý chất thải tập trung theo các cấp độ

Với khu xử lý chất thải tập trung, định hướng hình thành đồng bộ hệ thống khu xử lý chất thải tập trung cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh có quy mô công suất và công nghệ xử lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu tiếp nhận; xử lý được toàn bộ lượng chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại phát sinh trên phạm vi cả nước, hạn chế tối đa lượng chất thải rắn chôn lấp trực tiếp, thực hiện phân loại chất thải tại nguồn, thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải. Đồng thời, xây dựng được cơ chế, chính sách thuận lợi để đẩy mạnh xã hội hóa và thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, nước ngoài vào hoạt động xử lý chất thải.

Đặc biệt, chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 sẽ định hướng hình thành tối thiểu 02 khu xử lý chất thải tập trung cấp quốc gia; tối thiểu 07 khu xử lý chất thải tập trung cấp vùng tại các vùng kinh tế - xã hội trong kỳ quy hoạch; tối thiểu 01 khu xử lý chất thải tập trung cấp tỉnh tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Bên cạnh đó, với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường sẽ định hướng thiết lập mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường cấp quốc gia, cấp tỉnh thống nhất và đồng bộ, hiện đại, có tính liên kết trên phạm vi cả nước để chủ động theo dõi hiện trạng và bước đầu xây dựng năng lực dự báo diễn biến chất lượng môi trường, cảnh báo ô nhiễm môi trường; bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời phục vụ công tác quản lý nhà nước về môi trường.

Cụ thể, với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường quốc gia: định hướng thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường quốc gia tại các khu vực có tính chất liên vùng, liên tỉnh, xuyên biên giới, tập trung quan trắc tại các khu vực trọng yếu, khu vực có ý nghĩa quan trọng về bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường quốc gia phải có tính đồng bộ, liên kết với các hệ thống quan trắc môi trường cấp tỉnh.

Còn với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường cấp tỉnh sẽ định hướng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường tại địa phương, tập trung vào các khu vực có nguy cơ ô nhiễm do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, các khu vực chịu tác động của nhiều nguồn thải và các khu vực quan trọng về cảnh quan, sinh thái và môi trường trên địa bàn quản lý của các địa phương, hài hòa và có tính liên kết chặt chẽ với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường quốc gia để sử dụng hiệu quả nguồn dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường trên cả nước.

Mục tiêu đưa phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050

Mục tiêu đến đến năm 2050, môi trường Việt Nam có chất lượng tốt, bảo đảm môi trường sống trong lành cho nhân dân; bảo tồn hiệu quả đa dạng sinh học và duy trì được cân bằng sinh thái; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; xã hội phát triển hài hoà với thiên nhiên, đất nước phát triển bền vững theo hướng chuyển đổi xanh dựa trên phát triển nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp nhằm hướng tới đưa phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050; bảo đảm an ninh môi trường gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo

Về giải pháp tổ chức và giám sát thực hiện quy hoạch gồm: Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng; Hoàn thiện cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; Hoàn thiện tổ chức bộ máy, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong bảo vệ môi trường; Tăng cường thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; Tăng cường đầu tư tài chính; Ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xây dựng hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới quan trắc và cơ sở dữ liệu môi trường; Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.

Trong đó đặc biệt nhấn mạnh, tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xây dựng hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới quan trắc và cơ sở dữ liệu môi trường thông qua việc khuyến khích áp dụng công nghệ sạch, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguyên, nhiên liệu và năng lượng; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; cải tiến, chuyển đổi công nghệ, áp dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất (BAT), công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực để bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Bên cạnh đó, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám và công nghệ hiện đại trong quản lý, theo dõi, giám sát, quan trắc và cảnh báo môi trường; đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với thủ tục hành chính về môi trường.Thúc đẩy áp dụng các công nghệ xử lý chất thải rắn, ưu tiên công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, thu hồi năng lượng, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại đồng bộ, hiệu quả, không gây ô nhiễm môi trường, giảm lượng chất thải rắn xử lý bằng chôn lấp trực tiếp.

Phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại, đồng bộ trong quan trắc và cảnh báo môi trường, đặc biệt là các khu vực tập trung nhiều nguồn thải, khu vực nhạy cảm về môi trường; ứng dụng công nghệ hiện đại xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường thống nhất, đồng bộ, cập nhật, chia sẻ và được kết nối liên thông giữa các cấp, các ngành; bảo đảm thông tin môi trường được cung cấp kịp thời. Thúc đẩy chuyển đổi số, số hóa cơ sở dữ liệu, thông tin về môi trường.

Không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trường; đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cho các cơ quan nghiên cứu, đào tạo về môi trường; thúc đẩy và phát triển ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam xứng tầm để giải quyết tốt những vấn đề môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Hội thảo "Bãi đỗ xe thông minh tích hợp trạm sạc điện tại Hà Nội": Nhiều giải pháp cho bài toán giao thông tĩnh với tầm nhìn 100 năm

Ngày 26/9, Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ môi trường – Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức hội thảo chuyên đề "Cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng phát triển bãi đỗ xe thông minh tích hợp trạm sạc điện tại Hà Nội với tầm nhìn 100 năm". Sự kiện quy tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học và đại diện doanh nghiệp cùng bàn thảo về một trong những bài toán nan giải nhất của Thủ đô hiện nay: giao thông tĩnh.

Vòng đời mới của nông nghiệp: Khi phế phẩm trở thành kiến trúc

Vật liệu xây dựng hiếm khi bắt đầu từ nơi kiến ​​trúc tiếp xúc với nó. Khi bê tông đến công trường, đá vôi dùng để sản xuất nó đã được khai thác, chế biến và biến đổi. Gỗ đến rất lâu sau khi rừng đã được lấy đi. Kính xuất hiện tách rời khỏi cát mà nó được tạo ra. Khi vật liệu được đưa vào xây dựng, phần lớn cảnh quan và ngành công nghiệp sản xuất ra chúng đã biến mất khỏi tầm nhìn.

Thiết kế cho những thành phố lạc lõng: Kiến trúc vượt ra ngoài phạm vi con người

Kiến trúc vẫn tiếp tục vẽ nên các thành phố như thể chỉ có con người sinh sống trong đó. Các bản quy hoạch vạch ra các tuyến đường giao thông, bản đồ phân vùng phân định chức năng, và các tòa nhà được đánh giá dựa trên sự thoải mái, an toàn và hiệu quả của con người. Đi bộ qua các thành phố ở Ấn Độ và Tây Nam Á cho thấy một thực tế phức tạp hơn nhiều. Chó ngủ dưới các quầy hàng chợ, khỉ di chuyển trên mái nhà, chim làm tổ trên tháp đền và mặt tiền nhà thờ Hồi giáo, và côn trùng thụ phấn cho cảnh quan đô thị ẩn mình ngay trước mắt. Những loài này hòa mình vào cuộc sống đô thị hàng ngày một cách nhất quán như chính con người. Đường phố, sân trong, mái nhà, hệ thống thoát nước, chợ và các khu đất trống đều đã có nhiều loài cùng sinh sống đồng thời. Tư duy kiến ​​trúc đã chậm hơn trong việc tính đến thực tế này.

Từ mỏ đá đến mặt bàn bếp: Theo dấu nguồn gốc của đá tự nhiên trong kiến ​​trúc

Từ lâu, việc thắc mắc về nguồn gốc những thứ chúng ta tiêu thụ đã trở nên phổ biến. Chúng ta kiểm tra nhãn mác, tìm kiếm nhà sản xuất địa phương và nghiên cứu chuỗi cung ứng nhằm hiểu rõ tác động của thói quen tiêu dùng đối với sức khỏe bản thân và môi trường. Tuy nhiên, trong lĩnh vực kiến ​​trúc, câu hỏi này vẫn còn tương đối ít được quan tâm. Chúng ta thường biết ai đã thiết kế một tòa nhà, các vật liệu hoàn thiện, nhà sản xuất khung nhà , thương hiệu vật liệu ốp tường, và thậm chí cả hiệu suất năng lượng của nó , nhưng chúng ta hầu như không bao giờ hỏi hàng tấn vật liệu đã tạo nên công trình đó thực sự đến từ đâu.

FEEX 2027 chính thức ra mắt, mở nền tảng kết nối thị trường trong nước và quốc tế

Trong bối cảnh nhu cầu điện năng tăng trưởng mạnh mẽ nhờ sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu (Data Center), sản xuất thông minh và quá trình điện hóa nền kinh tế, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi quan trọng của ngành năng lượng. Đón đầu xu hướng này, Ban Tổ chức chính thức công bố Future Energy Expo & Conference 2027 (FEEX 2027) – triển lãm và hội nghị quốc tế về năng lượng thông minh và hạ tầng tương lai, đồng thời ký kết hợp tác chiến lược toàn diện với Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam (VCEA) nhằm thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ và phát triển hệ sinh thái năng lượng tại Việt Nam.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh