Trường Đại học Công nghệ Đông Á khánh thành cơ sở mới tại Bắc Ninh 

PV: Thưa ông, Đảng và Nhà nước luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Trong bối cảnh Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành, ông nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của việc ưu tiên đầu tư cho giáo dục ở những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là các xã biên giới?
Ông Nguyễn Túc: Tôi cho rằng, muốn nhìn đúng ý nghĩa của việc đầu tư giáo dục ở vùng biên thì trước hết phải nhìn giáo dục không chỉ như một chính sách an sinh, mà là chính sách phát triển con người và phát triển quốc gia. Nghị quyết 71-NQ/TW đặt giáo dục và đào tạo vào một yêu cầu mới: Phải tạo ra sự đột phá về chất lượng, đồng thời bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng cho mọi người. Điều đó càng có ý nghĩa đối với những địa bàn mà điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.
Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững thì không thể để khoảng cách về địa lý trở thành khoảng cách về cơ hội phát triển của con người. Một em nhỏ ở thành phố và một em nhỏ ở bản làng biên giới có thể sinh ra trong những điều kiện rất khác nhau nhưng cơ hội được học tập, được phát triển tài năng và được lựa chọn tương lai phải ngày càng bình đẳng hơn.
Vì thế, đầu tư một ngôi trường ở vùng biên không đơn giản là xây thêm phòng học. Đó là đưa một phần nguồn lực phát triển của quốc gia đến với những nơi còn khó khăn nhất. Nếu làm tốt, chúng ta không chỉ giúp một thế hệ trẻ có điều kiện học tập tốt hơn, mà còn tạo ra sự thay đổi của cả một cộng đồng.
Tôi thường nghĩ rất đơn giản thế này: Đường sá giúp con người đi đến những vùng đất xa xôi nhưng giáo dục giúp con người đi xa hơn trên chính con đường của cuộc đời mình. Đầu tư cho trường học vùng biên chính là mở thêm con đường ấy.
PV: Việc triển khai Đề án xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được thực hiện trong một thời điểm có nhiều chủ trương lớn về phát triển con người, thu hẹp khoảng cách vùng miền. Theo ông, vì sao một ngôi trường ở vùng biên cần được nhìn nhận không chỉ là công trình giáo dục mà còn là một phần của chiến lược phát triển con người, giữ dân, giữ bản và xây dựng vùng biên vững mạnh?
Ông Nguyễn Túc: Tôi cho rằng đây là một cách nhìn rất quan trọng. Biên giới trước hết là nơi có đồng bào sinh sống. Muốn giữ biên giới lâu dài thì trước hết phải giữ được cuộc sống bình yên, ổn định và niềm tin của người dân nơi đó. Cột mốc chủ quyền rất quan trọng, nhưng phía sau cột mốc ấy phải có dân cư, có bản làng, có trường học, có trạm y tế, có sinh kế và có tương lai. Cho nên, nói “giữ dân, giữ bản” không phải là một khẩu hiệu. Đó là một bài toán phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự lễ Lễ khánh thành Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Si Pa Phìn.
Một đứa trẻ phải đi hàng chục cây số mới đến trường thì việc học rất dễ bị gián đoạn. Một gia đình không nhìn thấy cơ hội học hành và việc làm cho con em mình thì rất khó tạo ra niềm tin về tương lai tại chính quê hương. Ngược lại, nếu ngay tại vùng biên có một ngôi trường tốt, có thầy cô tốt, có điều kiện ăn ở, học tập, rèn luyện đầy đủ, thì nhà trường sẽ trở thành một điểm tựa để người dân yên tâm gắn bó với bản làng. Đó chính là mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển vùng biên.
Tôi cho rằng, 248 ngôi trường nếu được xây dựng đồng bộ và vận hành tốt sẽ tạo ra một mạng lưới những “điểm tựa con người” dọc biên giới. Giữ dân bằng chất lượng cuộc sống, giữ bản bằng văn hóa, giữ tương lai bằng giáo dục - ba việc ấy thực ra gắn bó chặt chẽ với nhau.

PV: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo cơ hội phát triển cho mọi người dân. Từ góc nhìn của ông, những mái trường nội trú liên cấp được đầu tư đồng bộ ở vùng biên có thể tạo ra sự thay đổi như thế nào đối với cuộc sống, cơ hội học tập và tương lai của trẻ em đồng bào các dân tộc thiểu số?
Ông Nguyễn Túc: Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là phải biến sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thành những thay đổi mà người dân có thể cảm nhận được trong đời sống hằng ngày. Người dân không đánh giá một chủ trương chỉ qua những văn bản rất hay. Họ nhìn vào việc con mình hôm nay có được học trong một ngôi trường tốt hơn không, có được ăn ở đầy đủ không, có thầy cô tận tâm không, có cơ hội học tiếp không và sau này có thể tìm được một công việc để sống được bằng chính năng lực của mình hay không.
Đối với trẻ em vùng biên, một ngôi trường nội trú tốt có thể thay đổi rất nhiều thứ. Trước hết là thay đổi cơ hội. Các em không còn phải chịu bất lợi quá lớn chỉ vì nơi mình sinh ra cách xa trung tâm.
Thứ hai là thay đổi nhận thức. Khi được học tập trong một môi trường tốt, được tiếp xúc với tri thức mới, công nghệ mới và bạn bè đến từ nhiều dân tộc, các em sẽ nhìn thấy một thế giới rộng lớn hơn mà vẫn hiểu rằng mình có thể đóng góp cho quê hương.
Và quan trọng nhất là thay đổi khát vọng. Tôi rất coi trọng chữ “khát vọng”. Một đứa trẻ chỉ có thể hình dung về tương lai nếu nó được trao cơ hội để nhìn thấy tương lai ấy. Bởi vậy, trường nội trú không chỉ cần đủ phòng học. Chúng ta phải nghĩ đến thư viện, phòng thí nghiệm, công nghệ số, thể thao, nghệ thuật, kỹ năng sống, hướng nghiệp... để các em phát hiện ra mình có khả năng gì. Một ngôi trường tốt không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh; nó phải mở ra cho học sinh khả năng lựa chọn cuộc đời mình.
PV: Một trong những tinh thần quan trọng của Nghị quyết 71-NQ/TW là bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người, không để học sinh bị bỏ lại phía sau. Theo ông, mô hình trường nội trú liên cấp ở các xã biên giới có thể góp phần hiện thực hóa tinh thần này như thế nào?
Ông Nguyễn Túc: Theo tôi, ở đây cần hiểu đúng chữ “bình đẳng”. Bình đẳng không có nghĩa là đem một mô hình giống nhau áp dụng cho tất cả mọi nơi. Nếu một học sinh ở thành phố có trường học cách nhà vài trăm mét, còn một học sinh ở vùng biên phải vượt núi, vượt suối mới đến trường mà chúng ta lại cung cấp cho hai em những điều kiện giống nhau, thì trên thực tế đó chưa phải là bình đẳng. Công bằng là phải nhìn thấy sự khác biệt về điểm xuất phát để có chính sách phù hợp. Trường nội trú chính là một cách để bù đắp những bất lợi do điều kiện địa lý gây ra.
Nhưng tôi muốn nhấn mạnh: Xây được trường mới chỉ là bước đầu. Nếu trường đẹp mà thiếu giáo viên giỏi, thiếu cán bộ quản lý tốt, thiếu sách, thiếu thiết bị, thiếu hoạt động giáo dục thì chúng ta mới giải quyết được phần “vỏ” của vấn đề.
Nghị quyết 71 đặt ra yêu cầu đột phá, mà đột phá trước hết phải nằm ở chất lượng giáo dục. Cho nên, với 248 trường này, tôi mong chúng ta đừng chỉ đặt câu hỏi “bao giờ xây xong?”, mà phải đặt thêm những câu hỏi khó hơn: Sau 5 năm học sinh tiến bộ thế nào? Sau 10 năm những em ấy đi đâu? Bao nhiêu em trở thành giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, cán bộ cơ sở? Bao nhiêu em quay trở lại phục vụ quê hương?
Nếu trả lời được những câu hỏi ấy, chúng ta mới biết đầu tư hôm nay có thực sự tạo ra thay đổi hay không.

PV: Không gian nội trú là nơi học sinh nhiều dân tộc cùng học tập, ăn ở và trưởng thành trong nhiều năm. Theo ông, việc các em cùng sống dưới một mái trường có ý nghĩa như thế nào đối với việc vun đắp tình đoàn kết, sự tôn trọng khác biệt văn hóa và khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngay từ thế hệ trẻ?
Ông Nguyễn Túc: Đại đoàn kết dân tộc nếu chỉ nói bằng những khái niệm lớn thì rất dễ trở nên xa xôi. Nhưng thực ra, đại đoàn kết bắt đầu từ những điều rất đời thường.
Một đứa trẻ người Mông ăn cơm cùng một đứa trẻ người Dao, người Giáy, người Hà Nhì; cùng đá bóng, cùng học bài, cùng trực nhật, cùng giúp nhau khi ốm... Những việc tưởng như rất nhỏ ấy lại chính là quá trình hình thành sự hiểu biết và tình cảm giữa con người với con người.

Muốn tôn trọng một dân tộc khác thì trước hết phải hiểu họ. Muốn hiểu thì phải sống cùng, học cùng, chơi cùng. Đó là giá trị đặc biệt của trường nội trú. Nhưng tôi cũng muốn lưu ý một điều: Đoàn kết không có nghĩa là làm cho các dân tộc giống nhau.
Ngược lại, phải để mỗi dân tộc giữ được tiếng nói, văn hóa, phong tục, ký ức của mình, đồng thời hiểu và tôn trọng văn hóa của dân tộc khác. Một Việt Nam thống nhất nhưng đa dạng chính là sức mạnh của chúng ta.
Vì thế, tôi kỳ vọng trường nội trú sẽ là nơi các em “học cái mới nhưng không quên cái gốc”. Nếu làm được như vậy, ngôi trường không chỉ đào tạo học sinh mà còn góp phần đào tạo những con người biết sống cùng nhau trong một cộng đồng đa dạng.
PV: Nghị quyết 71-NQ/TW đặt giáo dục trong mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Từ những mái trường vùng biên hôm nay, chúng ta cần kỳ vọng gì về một thế hệ học sinh sau này sẽ trở thành những người xây dựng quê hương?
Ông Nguyễn Túc: Tôi cho rằng đây mới là thước đo sâu xa nhất của Đề án. Một ngôi trường có thể hoàn thành trong một, hai năm nhưng giá trị thật của ngôi trường phải được nhìn sau 10 năm, 20 năm.
Hôm nay chúng ta xây một ngôi trường ở Mường Khương, Bát Xát, Mường Nhé hay Dào San; nhưng 10-15 năm nữa, những học sinh đang ngồi trong lớp học ấy có thể trở thành giáo viên của chính ngôi trường đó, bác sĩ của huyện, kỹ sư xây dựng đường giao thông, cán bộ cơ sở, doanh nhân, nhà khoa học...
Nếu một phần trong số các em trở về đóng góp cho quê hương, thì lúc ấy khoản đầu tư hôm nay mới thực sự sinh lợi không phải lợi nhuận bằng tiền, mà là lợi nhuận bằng con người.
Tôi đặc biệt kỳ vọng vào việc hình thành nguồn nhân lực tại chỗ. Vùng biên không thể phát triển bền vững nếu đội ngũ có chuyên môn cao luôn phải đưa từ nơi khác đến.
Phải có một thế hệ người dân vùng biên được học hành tốt, có nghề nghiệp, có năng lực quản lý và có khát vọng trở về xây dựng quê hương. Đó cũng là cách bền vững nhất để “giữ dân”.

PV: Từ những chủ trương lớn của Đảng, sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và tinh thần đột phá mà Nghị quyết 71-NQ/TW đặt ra cho giáo dục, ông muốn gửi gắm điều gì để việc xây dựng 248 trường nội trú liên cấp không chỉ dừng lại ở những công trình mới, mà thực sự trở thành những hạt nhân phát triển của cộng đồng nơi biên cương?
Ông Nguyễn Túc: Tôi muốn nhấn mạnh một điều: Đừng chỉ xây trường, hãy xây tương lai. Xây một công trình là việc có thể nhìn thấy bằng mắt. Nhưng xây tương lai của một cộng đồng thì cần một quá trình lâu dài hơn rất nhiều.
Một ngôi trường phải có thầy giỏi, trò tốt, người quản lý có tâm và có tầm. Phải có chương trình giáo dục phù hợp. Phải có sách, có thiết bị, có công nghệ. Phải chăm lo cả đời sống vật chất và tinh thần của học sinh. Và đặc biệt, phải có chính sách để giáo viên yên tâm ở lại với vùng khó.
Tôi cũng mong những ngôi trường này không khép kín với cộng đồng. Nhà đa năng có thể là nơi người dân sinh hoạt khi cần thiết. Thư viện có thể trở thành nơi phổ biến tri thức. Sân thể thao có thể phục vụ thanh thiếu niên địa phương. Khi thiên tai xảy ra, cơ sở vật chất của trường có thể trở thành điểm tránh trú, hỗ trợ cộng đồng.
Khi đó, ngôi trường không còn là một công trình nằm giữa bản làng mà trở thành một phần của bản làng. Và tôi nghĩ đó mới là điều sâu xa nhất.

Chúng ta đang nói rất nhiều về phát triển nhanh, phát triển bền vững, về khoa học công nghệ, về nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhưng muốn những khái niệm lớn ấy đi vào cuộc sống thì phải bắt đầu từ từng con người cụ thể. Ở vùng biên, điều đó càng có ý nghĩa.
Một em bé được giữ lại với trường học hôm nay có thể trở thành một người giữ bản làng ngày mai. Một người trẻ được trao cơ hội hôm nay có thể trở thành người xây dựng quê hương ngày mai. Và một thế hệ được giáo dục tốt hôm nay sẽ là nền tảng vững chắc nhất để giữ dân, giữ bản, giữ biên cương. Đó chính là ý nghĩa lớn nhất của việc đầu tư cho giáo dục vùng biên trong tinh thần Nghị quyết 71.
PV: Qua hàng loạt chuyến khảo sát thực tế, các cuộc làm việc với ngành Giáo dục và việc trực tiếp dự lễ khởi công, khánh thành các công trình thuộc Đề án 248 trường nội trú, ông cảm nhận như thế nào về sự quan tâm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đối với sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số?
Ông Nguyễn Túc: Điều tôi ấn tượng là sự quan tâm của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta với sự nghiệp giáo dục vùng biên không chỉ dừng ở những chủ trương, định hướng lớn mà được thể hiện bằng việc đồng chí trực tiếp đi khảo sát, đến tận trường học, gặp gỡ thầy cô, học sinh, lắng nghe những khó khăn từ cơ sở. Đồng chí không chỉ quan tâm đến việc xây dựng thêm bao nhiêu phòng học, bao nhiêu nhà nội trú mà quan tâm đến việc các cháu học sinh có nơi ở an toàn hay không, có điều kiện học tập tốt hơn không và thầy cô có yên tâm bám trường, bám lớp hay không.
Tôi cho rằng, điều đáng quý nhất là qua sự quan tâm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giáo dục vùng khó đã được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ đầu tư cơ sở vật chất, mà là đầu tư cho con người, cho tương lai của đất nước. Sự hiện diện của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại cơ sở cũng truyền đi một thông điệp rất mạnh mẽ: Dù ở miền xuôi hay miền ngược, dù ở đô thị hay những bản làng xa xôi, mỗi học sinh đều phải được quan tâm và có cơ hội học tập, phát triển như nhau.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Kỳ 5: Kỳ vọng của giáo viên