Hành lang xanh Hà Nội có rừng?

Hành lang xanh Hà Nội có rừng?

(Vietnamarchi) - (KTVN 250) “Xu hướng xây dựng “thành phố có rừng, thành phố trong rừng” đã được nhiều quốc gia trên thế giới triển khai thành công. Với Việt Nam, xu hướng này chắc chắn sẽ được nhiều người dân ủng hộ, bởi lẽ môi trường sống xanh, an lành là mơ ước của hầu hết cư dân đô thị trước bối cảnh tỉ lệ cây xanh, mặt nước, không gian công cộng đang thiếu trầm trọng.
09:00, 24/05/2024

Vai trò của đô thị, hành lanh xanh trong cấu trúc bền vững

Năm 2009, Luật Quy hoạch đô thị ra đời với nội dung xây dựng liên quan tới vấn đề của đô thị. Đến Luật Xây dựng 2014, chương II đã nêu về quy hoạch xây dựng trong đó có các khu chức năng đô thị và nông thôn. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang sớm hoàn thành xây dựng Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.

Có thể thấy, từ năm 2009 đến nay, sau gần 15 năm triển khai thực hiện, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Xây dựng đã đi vào cuộc sống, hệ thống đô thị và nông thôn.

Từ quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch các ngành đến hệ thống quy hoạch của đô thị và nông thôn đã được phủ kín, quy hoạch nông thôn cơ bản đang triển khai. Vì vậy, bộ mặt đô thị tại Việt Nam ngày càng phát triển, bộ mặt kiến trúc và quy hoạch đô thị nông thôn thay đổi từng ngày.

Trong quá trình đổi mới phát triển đất nước, Hà Nội đã có sự phát triển rất nhanh về đô thị, như quận Hà Đông, nhiều năm trở lại đây hạ tầng giao thông phát triển đa dạng, nhiều khu đô thị văn minh, hiện đại được xây dựng. Các huyện Đông Anh, Gia Lâm cũng phát triển rất nhanh về hạ tầng đô thị. Khu vực đường vành đai 3 trước đây chỉ có tính chất ngoại vi của đô thị nhưng Hà Nội giờ đã phát triển đến vành đai 4.

Bức tranh về phát triển đô thị hiện nay cho thấy, Việt Nam có hệ thống khoảng 902 đô thị, 02 đô thị loại đặc biệt, 22 đô thị loại I còn lại là các đô thị loại II, loại III, loại IV, loại V. Với hệ thống đô thị phát triển như vậy đã đóng góp lớn cho sự tăng trưởng của đất nước, đóng góp GDP khoảng 75%.

Thời gian qua, Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đến vấn đề phát triển đô thị. Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết 06 về quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị Việt Nam bền vững đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết xác định xây dựng các đô thị Việt Nam ngang tầm thời đại, ngang tầm quốc tế.

Cụ thể, Nghị quyết cũng đặt mục tiêu xây dựng 03 đến 05 đô thị mang tầm quốc tế. Hiện nay, Việt Nam có 5 đô thị trực thuộc Trung ương, trong đó Hà Nội và TPHCM là 02 thành phố 10 triệu dân có thể coi như đại đô thị.

Nghị quyết quan tâm đến xây dựng và quản lý quy hoạch, trong đó quy hoạch phải có hệ thống phù hợp với yêu cầu phát triển của quốc gia, phải có cây xanh, hệ thống công viên, mặt nước đủ điều kiện đúng tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Xây dựng ban hành.

Việc xây dựng những đô thị lớn, đô thị loại I cần phải có hệ thống quy hoạch, cơ cấu, cấu trúc quy hoạch phù hợp với yêu cầu phải có “hành lang xanh, nêm xanh”; gồm tổ chức về cây xanh, mặt nước, công viên, hệ thống cây cách ly, vườn ươm… tạo nên bộ mặt của những đô thị lớn, quy mô khoảng 1-2 triệu dân trở lên.

Đối với Hà Nội, hành lang xanh rất quan trọng, trong quy hoạch cần tính toán giữ được 70% cây xanh, mặt nước; còn 30% đất để xây dựng đô thị bao gồm cả giao thông.

Khi Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính có cơ cấu 72% là nông thôn, 28% là đô thị. Vì vậy, cần có quy hoạch nông thôn, quy hoạch nông nghiệp công nghệ cao, những khu vực làng mạc dày đặc và làng nghề truyền thống, cụm công nghiệp.

Hành lang xanh khác nêm xanh như thế nào?

Khái niệm về “Hành lang xanh” bắt nguồn từ năm 2008, khi Thủ đô Hà Nội được mở rộng đô thị, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng triển khai xây dựng quy hoạch mới cho Thủ đô Hà Nội. Lúc này, Hà Nội sáp nhập toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Hà Tây, 04 xã của tỉnh Hòa Bình và huyện Mê Linh với diện tích từ 920km2 lên 3.344km2. Với không gian mở rộng, Hà Nội sở hữu hành lang xanh, vành đai xanh với nhiều nêm xanh, công viên xanh. Khu vực làng xóm, đất đai, sông suối chảy đang trong quá trình phát triển đô thị được sáp nhập và nằm trong hành lang xanh Thủ đô.

Cụ thể khu vực ngoại thành có hành lang sông Nhuệ, hành lang sông Tích, hành lang sông Đáy. Trong nội đô có hành lang sông Kim Ngưu, hành lang sông Tô Lịch trong đô thị tạo hệ thống mặt nước, cây xanh phong phú.

Đặc biệt, có 01 dải hành lang xanh rất quan trọng đó là sông Hồng, không gian ở giữa mặt nước, 2 bên cây xanh, bãi bồi, dòng nước chính là hệ thống không gian, cây xanh, công viên, hành lang xanh tạo nên trục không gian chính của Hà Nội.

Hành lang xanh sông Hồng - Nơi đầy ắp tình yêu đất và nước

Mỗi hành lang xanh có một diện tích khác nhau, bề dày khác nhau tạo nên lớp lang để đô thị phát triển, bổ sung về không gian xanh, khí hậu, cảnh quan môi trường. Hành lang xanh cần được xác định là một thực thể tự nhiên, trải dài và rộng, đôi khi kéo dài hàng cây số dọc theo hai bờ sông, hai bên là làng xóm. Tóm lại, khu vực làng xóm và không gian nông thôn, làng mạc, đất nông nghiệp, đường đi bộ trong bờ bãi, ruộng vườn, trồng màu, ao hồ, sông suối đều nằm trong hành lang xanh.

Trong quy hoạch, khu vực hành lang xanh không được xây dựng nhà cao tầng, không xây dựng mới, tạo nên một thực thể thống nhất kết hợp với khu vực đô thị nhà cao tầng và khu dân cư nông thôn. Qua những vành đai đó tạo nên khu vực hành lang xanh.

Khái niệm về “nêm xanh” đô thị không chỉ trải dài trên diện tích lãnh thổ mà còn có những khoảng xanh vài trăm m đến 1km gồm vùng cây xanh và con. Nêm xanh được các nhà kiến trúc quy hoạch đánh giá trên cơ sở tổ chức của không gian đó cũng như yếu tố địa hình để tính toán nêm xanh hợp lý.

Với những đô thị loại I, đô thị đặc biệt, nêm xanh thường xuyên xuất hiện, nêm xanh đi vào hệ thống cây xanh chung của thành phố, ngoài công viên có vườn hoa, công viên lớn với chức năng như lá phổi xanh cho đô thị như công viên Hòa Bình, trong tương lai có công viên Cổ Loa, cùng nhiều loại hình như công viên động vật hoang dã, công viên thủy cung, công viên rừng Ba Vì.

Hà Nội - Thành phố có rừng?

Trên thế giới đã xuất hiện nhiều “thành phố trong rừng, rừng trong thành phố”, điển hình như: Công viên trung tâm Central Park nằm giữa lòng đô thị quận Manhattan rộng lớn, sầm uất của thành phố New York (Mỹ). Công viên này được mệnh danh là “lá phổi xanh” của New York, với diện tích lên đến 340ha. Nhìn từ trên cao, Central Park như một cánh rừng rộng lớn trong lòng đô thị, không chỉ giúp điều hòa không khí mà còn là địa điểm hút khách du lịch tại New York; Thành phố Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc đai diện cho “Rừng trong thành phố” vì Côn Minh nằm trên địa hình cao, là thành phố của Festival hoa thế giới quy tụ, thành phố có hệ thống cây xanh rất lớn và rừng Thạch Lâm.

Ở Việt Nam, thành phố Đà Lạt với những rừng đồi thông bao phủ, làng hoa nông nghiệp công nghệ cao, hồ Xuân Hương như tấm gương soi chiếu cho đô thị. Ở khu vực phía Bắc, Thị xã SaPa là thành phố trong rừng, với địa hình núi cao, sở hữu đa dạng tài nguyên rừng cùng thảm thực vật phong phú.

Rừng Ba Vì, Hà Nội

Trong phạm vi bao trùm toàn Thủ đô Hà Nội, hiện nay có tới 2/3 diện tích bao gồm rừng, cây xanh, mặt nước, núi đá, đất đai. Cần nhắc đến rừng Ba Vì, rừng Sóc Sơn, rừng Hương Sơn, tất cả một màu xanh ngắt của rừng từ phía Bắc kéo xuống phía Tây Hà Nội, vì vậy cần khẳng định Hà Nội có rừng trong thành phố. Câu chuyện làm thế nào để rừng phát huy giá trị không chỉ là lá phổi của thành phố mà trở thành điểm đến nghỉ dưỡng, vui chơi của người dân Thủ đô đang là vấn đề đáng quan tâm.

Ngày 9/4/2024, trong cuộc họp Báo cáo Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2050, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã nhấn mạnh, quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội nên dựa trên kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn, cần chứng minh tầm nhìn của yêu cầu quy hoạch. Quy hoạch phải xem xét, nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, báo cáo cấp thẩm quyền, xin chủ trương, kiến nghị hướng xử lý đối với những vấn đề mới đặt ra như trong thành phố có rừng, thành phố trong rừng…

Xu hướng xây dựng “thành phố có rừng, thành phố trong rừng” đã được nhiều quốc gia trên thế giới triển khai thành công. Với Việt Nam, xu hướng này chắc chắn sẽ được nhiều người dân ủng hộ, bởi lẽ môi trường sống xanh, an lành là mơ ước của hầu hết cư dân đô thị trước bối cảnh tỉ lệ cây xanh, mặt nước, không gian công cộng đang thiếu trầm trọng.

Trước bối cảnh đó, vấn đề xây dựng quy hoạch, triển khai và quản lý quy hoạch phù hợp, đồng bộ và bài bản để kịp thời khuyến khích những tổ chức, cá nhân tạo dựng những mảng nêm xanh, rừng trong thành phố hay rộng hơn nữa là những hành lang xanh của đô thị. Qua đó, tạo động lực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thay đổi mô hình sản xuất, giống cây trồng để phát triển các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn, du lịch sinh thái… một cách hiệu quả, bền vững./.

Phòng ngừa cháy nổ trong công trình lắp đặt trạm sạc xe điện: Điều kiện hiện tại, rủi ro và các giải pháp tích hợp

(KTVN 262) Thực trạng công tác phòng ngừa cháy trong lắp đặt trạm sạc xe điện phản ánh một nghịch lý. Một mặt, hạ tầng sạc EV đã mở rộng nhanh chóng và ngày càng được công nhận là một thành phần thiết yếu của giao thông ít phát thải carbon, hệ thống năng lượng thông minh và các chiến lược phát triển bền vững đô thị [1, 22]. Mặt khác, sự phát triển thực tế của công tác phòng ngừa cháy không phải lúc nào cũng theo kịp tốc độ triển khai hạ tầng, đặc biệt liên quan đến sạc công suất cao, hành vi cháy liên quan đến pin, giám sát thông minh và khả năng chống chịu mạng - vật lý. Kết quả, ngày nay nhiều cơ sở sạc đang vận hành trong một môi trường an toàn mang tính chuyển tiếp: chúng có thể đáp ứng các yêu cầu thiết kế điện truyền thống, nhưng vẫn thiếu kiến trúc phòng ngừa cháy tích hợp cần thiết cho các rủi ro vận hành mới.

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

(KTVN 262) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng cấp bách, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí metal của ngành giao thông vận tải, định hướng phát triển hệ thống giao thông vận tải xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050.Quá trình đô thị hóa nhanh, dân số trẻ, tăng trưởng kinh tế ổn định và nhu cầu giảm ô nhiễm không khí là những động lực chính thúc đẩy chuyển đổi sang xe điện. Không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia trong khu vực đã cam kết giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy kinh tế xanh, tạo nền tảng chính sách thuận lợi cho phát triển phương tiện giao thông điện.

Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

(KTVN 262) Trước thực trạng phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, khó lường, phương tiện giao thông điện (EV, e-bike, e-motorbike) xuất hiện như một lựa chọn hàng đầu cho mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Nhưng cùng với những thế mạnh của chúng, các vụ cháy đã xảy ra trên thế giới và Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp bách về đảm bảo an toàn cháy cho các công trình, đặc biệt tại các khu vực không gian kín như tầng hầm nhà cao tầng hay khu dân cư. Để giải quyết những rủi ro này, cần có một cách tiếp cận toàn diện bao gồm các biện pháp kỹ thuật và quản lý, từ đánh giá rủi ro khác biệt đến các cơ chế an toàn xuyên suốt. Tham luận đánh giá thực trạng hạ tầng và khoảng trống pháp lý tại Việt Nam, phân tích các định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy (PCCC) cần thiết để ứng phó hiệu quả với những rủi ro cháy nổ liên quan đến khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe trong các tầng hầm nhà chung cư và khu dân cư tại Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và đặc thù trong nước, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách về kỹ thuật, quản lý và vận hành nhằm đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

(KTVN 262) Sự chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe chạy nguyên liệu hóa thạch sang xe chạy điện là xu thế tất yếu của giao thông xanh, quá trình chuyển đổi này hiện đang diễn ra nhanh chóng, tạo ra những thách thức không nhỏ đối với hệ thống hạ tầng đô thị, trong đó đặc biệt là thách thức đối với hạ tầng bến, bãi đỗ xe tại các đô thị ở nước ta. Một ví dụ điển hình là vấn đề “Hạ tầng xe điện và chung cư, nhà ở cao tầng” đang trở thành một trong những điểm nóng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ hạ tầng kỹ thuật đô thị, tập trung vào các vấn đề về quy hoạch không gian, các vấn đề về kỹ thuật đối với bến, bãi đỗ xe, trạm sạc để đáp ứng nhu cầu đặt ra của quá trình chuyển đổi phương tiện giao thông sang xe điện.

Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ cần cách tiếp cận đồng bộ

(KTVN 262) Sự gia tăng của xe điện trong các đô thị lớn đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích ứng của hạ tầng kỹ thuật và hệ thống quản lý. Điều này tạo ra một khoảng trống mà trong đó, rủi ro không đến từ bản thân công nghệ, mà đến từ sự thiếu đồng bộ giữa phát triển phương tiện và tổ chức không gian đô thị.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh