Chuyển đổi số ngành Xây dựng cần ban hành cơ chế chính sách kịp thời

Chuyển đổi số ngành Xây dựng cần ban hành cơ chế chính sách kịp thời

(Vietnamarchi) - Hiện nay, một công trình bắt đầu từ giai đoạn hình thành ý tưởng cho đến thiết kế, từ ý tưởng đến tổ chức thi công và khi đưa vào khai thác sử dụng đều có tác động của công cuộc chuyển đổi số hỗ trợ. Do đó, chuyển đổi số sẽ can thiệp vào được toàn bộ quá trình vận hành trong suốt một vòng đời của dự án. Lợi ích là vậy, tuy nhiên thách thức còn rất lớn, từ việc xây dựng cơ chế chính sách, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, đơn giá định mức… Đặc biệt, khi áp dụng mô hình thông tin công trình BIM tại Việt Nam, để bắt kịp với xu thế ứng dụng công nghệ trong xây dựng đang phát triển như “vũ bão” trên toàn cầu.
15:30, 20/09/2023

VAI TRÒ CỦA BIM TRONG CÔNG CUỘC CHUYỂN ĐỔI SỐ

Chuyển đổi số có vai trò rất quan trọng, là nội dung cơ bản, trụ cột kỹ thuật số của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (Công nghiệp 4.0). Việc ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo vào trong các lĩnh vực đã tạo động lực thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển như “vũ bão” giúp tăng năng suất lao động cùng sự chuyển động mạnh về mặt công nghệ.

Không chỉ trong lĩnh vực xây dựng, công nghệ còn thúc đẩy sự phát triển vượt trội của rất nhiều ngành, lĩnh vực. Do đó, những ngành nào không nhanh chóng tiếp cận được quá trình này sẽ bị tụt lại phía sau.

Có thể thấy, khi chúng ta chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ giới đã giúp tăng cao năng suất lao động nên việc áp dụng thêm công nghệ sẽ tạo ra năng lực rất lớn.

Hiện nay, chuyển đổi số trong lĩnh vực xây dựng hiệu quả nhất là việc áp dụng mô hình BIM. Mô hình BIM là chuyển đổi những thông tin số liệu thông thường thành những thông tin ở dạng hình học không gian. Trước đây, mọi người chỉ sử dụng bản vẽ 2D nhưng khi áp dụng công nghệ 3D có thể thể hiện rõ không gian ba chiều.

Như vậy, ứng dụng công nghệ 3D đã tạo ra đột phá rất lớn về thay đổi trong công tác nghiên cứu, thiết kế. Bằng công nghệ 3D, mọi người có thể hình dung được tất cả hạng mục công trình một cách hết sức sống động, giúp những người chưa được tiếp cận trong lĩnh vực kiến trúc vẫn có thể đọc và hiểu được.

Với việc chuyển đổi từ những thông tin số liệu ban đầu thành không gian ba chiều, cùng các phần mềm, ứng dụng khác đã tạo ra sự đột phá rất mạnh mẽ trong việc ứng dụng BIM.
Bắt đầu, từ việc sử dụng công nghệ 3D dựng lên một không gian ba chiều giúp thuận lợi trong tổ chức thiết kế, thi công xây dựng, sau đó đã phát triển thêm công nghệ 4D tính được dự toán, công nghệ 5D tính được thiết bị, công nghệ 6D tính được quản lý khai thác vận hành, còn công nghệ 7D hiện nay đang phát triển rất mạnh mẽ. Vì vậy, việc phát triển BIM đã thay đổi một cách mạnh mẽ đến lĩnh vực xây dựng.

Việc ứng dụng BIM trong lĩnh vực xây dựng không chỉ về khảo sát sơ bộ rồi lập quy hoạch mà còn có thể dùng 3D để phân khu chức năng một cách rõ ràng. Xây dựng dân dụng là một trong những ngành đi sớm nhất, đi nhanh nhất trong việc ứng dụng BIM.

Thông qua việc ứng dụng BIM, chúng ta có thể hình dung được toàn bộ kết cấu tòa nhà nhờ các hiệu ứng công nghệ, đồng thời có thể phát hiện được tất cả những vị trí xung đột. Từ những hình dung ban đầu như vậy, chúng ta sẽ lập được tiến độ chi tiết và từ đó sẽ lập được nhu cầu vật liệu, lập dự toán một cách cụ thể.

Hiện nay, trong một công trình bắt đầu từ giai đoạn hình thành ý tưởng cho đến thiết kế, từ ý tưởng đến tổ chức thi công và đến khi đưa vào khai thác sử dụng đều đã có BIM hỗ trợ. Nếu trong quá trình sử dụng công trình xuất hiện hư hỏng thì có thể tìm lại hồ sơ để kiểm tra, xác định lỗi xảy ra trong quá trình thiết kế hay thi công. Nếu phát hiện lỗi thì có thể lập tức tìm được tất cả những thông tin để sửa chữa, bảo trì. Do đó, BIM sẽ can thiệp, tác động vào toàn bộ quá trình vận hành trong suốt một vòng đời của công trình.

NHẬN DIỆN VÀ ÁP DỤNG BIM NHƯ THẾ NÀO?

Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm về BIM được nhắc tới rất nhiều nhưng không phải đơn vị nào cũng triển khai được mô hình này nếu như không nhìn nhận một cách đầy đủ về các thách thức khi áp dụng mô hình BIM. Về thách thức chung, có thể thấy:

Thứ nhất, tính pháp lý của mô hình BIM chưa được thừa nhận. Do đó, nếu muốn đưa mô hình BIM vào cuộc sống thì phải biến BIM trở thành chuyển động tổng thể của cả hệ thống, trong đó có cơ quan quản lý nhà nước. Nhà nước cần sớm có chính sách về công nghệ và có bộ phận nghiên cứu kịp thời để xây dựng pháp luật về việc áp dụng BIM như thế nào? Trong đó, có thể nêu rõ được mục tiêu áp dụng, mức độ chi tiết, cách phối hợp giữa các bên trong dự án và đặc biệt là sự thừa nhận tính pháp lý của hồ sơ BIM.

Ví dụ, nhiều dự án hiện nay đang tồn tại cùng lúc 02 hồ sơ, trong đó có 01 hồ sơ số và 01 hồ sơ giấy. Vấn đề công nghệ số đi vào lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam đã từ lâu nhưng do cơ chế chính sách còn vướng mắc nên sau một thời gian dài vẫn chưa thể triển khai rộng rãi.

Thứ hai, để áp dụng thống nhất trong các giai đoạn của dự án cần nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật về BIM.

Thứ ba, một trong những vấn đề quan trọng khi đã chấp nhận áp dụng BIM thì phải đảm bảo tính đồng bộ.

Thứ tư, hiện nay, phần lớn phần mềm để triển khai áp dụng BIM đều được nhập từ nước ngoài. Do đó, cần cơ quan, tổ chức công nghệ có khả năng lập trình giúp giải quyết thách thức.
Thứ năm, đối với các tổ chức, doanh nghiệp khi muốn áp dụng BIM cần có nguồn lực về tài chính để mua sắm thiết bị. Tiếp đó là vấn đề nhân sự có chuyên môn tập trung nghiên cứu về BIM, sẽ giới thiệu quy trình làm việc BIM cho toàn bộ đơn vị để hướng dẫn và triển khai, đầu tư thiết bị cho công nghệ số.
Cuối cùng, thách thức lớn nhất chính là đơn giá định mức áp dụng BIM chưa có nên việc áp dụng mô hình này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp. Vì vậy, cần sớm nghiên cứu để xây dựng đơn giá định mức.

CẦN BAN HÀNH CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH KỊP THỜI

Chuyển đổi số đã tác động mạnh mẽ vào việc sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp. Hiện nay, chuyển đổi số đã phát triển đến tầm sử dụng những công nghệ cao với việc áp dụng trí tuệ nhân tạo AI. Vấn đề cấp thiết hiện nay là chúng ta cần triển khai rộng rãi việc áp dụng mô hình BIM tại Việt Nam.

Ví dụ, một nhà máy sản xuất máy móc, thiết bị về xây dựng tại Trung Quốc, quy trình sản xuất gần như tự động hóa đến 80-90%. Các thiết bị, máy móc rất lớn được sản xuất nhưng lại không hề sử dụng đông nhân sự mà chỉ có những robot di chuyển, lắp ghép các thiết bị. Có thể thấy năng suất lao động, chất lượng sản phẩm chỉ đạt được khi dây chuyền sản xuất được tự động hóa, đặc biệt là sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Chuyển đổi số đang là một thách thức, tồn tại đối với doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên, để doanh nghiệp đầu tư “gỡ nút thắt” và phát triển thì Nhà nước cần có chính sách mở để tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vươn lên, thậm chí vươn tầm ra thế giới.

Cần nhận thức sự phát triển của một doanh nghiệp chính là động lực phát triển của quốc gia nhưng cũng là tạo dựng giá trị của quốc gia đối với thế giới. Các doanh nghiệp đang tự xác định vị thế của mình, thương hiệu của mình đối với thị trường trong nước và vươn ra thị trường thế giới chính là nghĩa vụ tạo nên hình ảnh cho quốc gia mình.

Do đó, Nhà nước cần có những đơn vị riêng biệt chuyên quan tâm, giúp đỡ các doanh nghiệp tháo gỡ các vướng mắc đang gặp phải trong quá trình thực hiện chuyển đổi số.

Hiện nay, sự phát triển của các doanh nghiệp trong ngành Xây dựng đang diễn ra với tốc độ hạn chế nhưng bên ngoài lại đang tăng tốc rất nhanh. Do đó, Nhà nước cần tạo điều kiện, cơ chế cho những doanh nghiệp đang có khát vọng, niềm tin vào sự phát triển của chuyển đổi số./.

Phòng ngừa cháy nổ trong công trình lắp đặt trạm sạc xe điện: Điều kiện hiện tại, rủi ro và các giải pháp tích hợp

(KTVN 262) Thực trạng công tác phòng ngừa cháy trong lắp đặt trạm sạc xe điện phản ánh một nghịch lý. Một mặt, hạ tầng sạc EV đã mở rộng nhanh chóng và ngày càng được công nhận là một thành phần thiết yếu của giao thông ít phát thải carbon, hệ thống năng lượng thông minh và các chiến lược phát triển bền vững đô thị [1, 22]. Mặt khác, sự phát triển thực tế của công tác phòng ngừa cháy không phải lúc nào cũng theo kịp tốc độ triển khai hạ tầng, đặc biệt liên quan đến sạc công suất cao, hành vi cháy liên quan đến pin, giám sát thông minh và khả năng chống chịu mạng - vật lý. Kết quả, ngày nay nhiều cơ sở sạc đang vận hành trong một môi trường an toàn mang tính chuyển tiếp: chúng có thể đáp ứng các yêu cầu thiết kế điện truyền thống, nhưng vẫn thiếu kiến trúc phòng ngừa cháy tích hợp cần thiết cho các rủi ro vận hành mới.

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

(KTVN 262) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng cấp bách, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí metal của ngành giao thông vận tải, định hướng phát triển hệ thống giao thông vận tải xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050.Quá trình đô thị hóa nhanh, dân số trẻ, tăng trưởng kinh tế ổn định và nhu cầu giảm ô nhiễm không khí là những động lực chính thúc đẩy chuyển đổi sang xe điện. Không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia trong khu vực đã cam kết giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy kinh tế xanh, tạo nền tảng chính sách thuận lợi cho phát triển phương tiện giao thông điện.

Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

(KTVN 262) Trước thực trạng phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, khó lường, phương tiện giao thông điện (EV, e-bike, e-motorbike) xuất hiện như một lựa chọn hàng đầu cho mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Nhưng cùng với những thế mạnh của chúng, các vụ cháy đã xảy ra trên thế giới và Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp bách về đảm bảo an toàn cháy cho các công trình, đặc biệt tại các khu vực không gian kín như tầng hầm nhà cao tầng hay khu dân cư. Để giải quyết những rủi ro này, cần có một cách tiếp cận toàn diện bao gồm các biện pháp kỹ thuật và quản lý, từ đánh giá rủi ro khác biệt đến các cơ chế an toàn xuyên suốt. Tham luận đánh giá thực trạng hạ tầng và khoảng trống pháp lý tại Việt Nam, phân tích các định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy (PCCC) cần thiết để ứng phó hiệu quả với những rủi ro cháy nổ liên quan đến khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe trong các tầng hầm nhà chung cư và khu dân cư tại Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và đặc thù trong nước, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách về kỹ thuật, quản lý và vận hành nhằm đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

(KTVN 262) Sự chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe chạy nguyên liệu hóa thạch sang xe chạy điện là xu thế tất yếu của giao thông xanh, quá trình chuyển đổi này hiện đang diễn ra nhanh chóng, tạo ra những thách thức không nhỏ đối với hệ thống hạ tầng đô thị, trong đó đặc biệt là thách thức đối với hạ tầng bến, bãi đỗ xe tại các đô thị ở nước ta. Một ví dụ điển hình là vấn đề “Hạ tầng xe điện và chung cư, nhà ở cao tầng” đang trở thành một trong những điểm nóng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ hạ tầng kỹ thuật đô thị, tập trung vào các vấn đề về quy hoạch không gian, các vấn đề về kỹ thuật đối với bến, bãi đỗ xe, trạm sạc để đáp ứng nhu cầu đặt ra của quá trình chuyển đổi phương tiện giao thông sang xe điện.

Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ cần cách tiếp cận đồng bộ

(KTVN 262) Sự gia tăng của xe điện trong các đô thị lớn đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích ứng của hạ tầng kỹ thuật và hệ thống quản lý. Điều này tạo ra một khoảng trống mà trong đó, rủi ro không đến từ bản thân công nghệ, mà đến từ sự thiếu đồng bộ giữa phát triển phương tiện và tổ chức không gian đô thị.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh