Góp ý quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm
Bài 4: Nghị quyết số 02-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội đặt ra mục tiêu, yêu cầu cụ thể cần đáp ứng của Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm
Có thể bạn quan tâm
Pano 03 “Bản đồ định hướng liên kết vùng” nhưng vẫn không thể hiện là hạt nhân, trung tâm kết nối và động lực phát triển của cả vùng và cực tăng trưởng của cả nước
Pano 03 có 2 bản đồ, 3 hình và 2 ảnh minh hoạ, với các bản đồ thể hiện Hà Nội liên kết với các địa phương vùng Thủ đô bằng mạng lưới đường bộ theo cách tiếp cận Quy hoạch vùng Thủ đô cách đây 10 năm (2016-2026 ). Sau 10 năm, động lực và phương tiện liên kết vùng đã thay đổi lớn. Không chỉ đường bộ mà là hàng loạt tuyến đường sắt liên vùng, liên vận quốc tế, sân bay nội địa đã khởi động và đi vào hoạt động. Tương lai là hàng không tầm thấp sớm xuất hiện, đường thuỷ cao tốc cũng sớm hình thành, bên cạnh đó còn liên kết bằng xa lộ thông tin của không gian kỹ thuật số. Như vậy Pano 03 của TLQH đã không cập nhật đủ những động lực và phương tiện hiện tại, vô cùng lạc hậu với yêu cầu Quy hoạch tổng thế Thủ đô với tầm nhìn 100 năm
Đối chiếu với nội dung Nghị quyết 02-NQ/TW có 5 quan điểm phát triển của Thủ đô thời gian tới về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt: “Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị-hành chính quốc gia; nơi hội tụ và lan tỏa tinh hoa văn hóa, trí tuệ và nguồn lực của đất nước; trung tâm kiến tạo, giữ vai trò dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới; là hạt nhân, trung tâm kết nối và động lực phát triển của cả vùng và cực tăng trưởng của cả nước; dẫn đầu cả nước và vươn tầm khu vực về một số lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hướng tới là thành phố kết nối toàn cầu” [1] thì nội dung định hướng liên kết vùng tại Pano 03 của TLQH không đạt yêu cầu.
Pano 04 & 05 “Định hướng phát triển không gian đến 2045 và 2065” hạn hẹp trong địa giới hành chính, không tạo thành trung tâm kiến tạo, giữ vai trò dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới
Pano 04 “Định hướng phát triển không gian đến 2045” dựa trên mô hình cấu trúc tổng thể của quy hoạch vùng Thủ đô lập năm 2016, lạc hậu và không tiến cận thông tin hiện tại cũng như dự báo tương lai, nên đề xuất các không gian phát triển BĐS mới bám theo các tuyến đường bộ hạn hẹp trong địa giới hành chính Hà Nội. Những đô thị tuyến tính này chính là mô hình phát triển đô thị tự phát, còn gọi là “vết dầu loang” đã bị phê phán. Để ngăn chặn xu hướng phát triển BĐS bám đường, Quy hoạch chung mở rộng Thủ đô, công bố năm 2011 (gọi tắt là QHC 1259) đã đề xuất Hành lang Xanh có vai trò giãn cách đô thị trung tâm cũ với các đô thị vệ tinh.
Pano 05 “Định hướng phát triển không gian đến 2065” nối tiếp nội dung Pano 04, đặc tả thêm những vùng cảnh quan trong địa giới Hà Nội hiện tại, tự đặt tên vùng một cách chủ quan, có tính chất quảng cáo du lịch hơn là phân tích quy hoạch giới hạn.
Pano 04 & 05 của TLQH đã không đề xuất mô hình mới mà còn lạc hậu hơn cả QHC 1259 công bố cách đây 15 năm (2011-2026), và mô hình này đã không đạt yêu cầu của Nghị quyết 02-NQ/TW.
Pano 06 & 07 “Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến 2045 và 2065”: dọn đường cho phát triển BĐS tràn lan, không còn không gian để xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hóa, hội nhập quốc tế
Trong 20 năm (2003-2023), dân số đô thị Hà Nội tăng gấp đôi (2,3 triệu lên 4,6 triệu người), diện tích sàn nhà ở tăng gấp 20 lần (từ 12 triệu m2 lên 240 triệu m2), đất đô thị tăng hơn 10 lần (122km2 lên hơn 1.400km2, đo bằng diện tích đô thị phát sáng Earth Nigth + đất quy hoạch)… Từ 2023 đến nay và nhiều năm tới còn tăng tiếp. Tuy diện tích đất đô thị và sàn nhà hiện tại đã rất cao, có thể đủ diện tích sàn cho 15 triệu người, nhưng hàng triệu người vẫn còn ở trong những ngôi nhà phi chuẩn, nhiều khu đô thị ma ngày càng mở rộng và để hoang. Bản Pano 06 & 07 trong TLQH vẫn vẽ ra rất nhiều khu BĐS với những trục, cực, trung tâm vu vơ tối nghĩa, các chấm đánh dấu khu dân cư dày như rắc vừng khắp nơi, đặc biệt các khu mới đặt tại các vùng đất đã được đánh giá là “không thuận lợi cho xây dựng” được vẽ tại Pano 01 của TLQH.
Tài nguyên nước sạch Hà Nội trong nhiều năm nữa chỉ đủ cho 12 triệu người trong khi lại bố trí đất đai cho dân số tăng gấp đôi (20-25 triệu), mà không có giải pháp khả thi nào tái tạo hay bổ sung nguồn nước ngầm, nước mặt, hơn nữa còn tiếp tục thu hẹp không gian lưu trữ, ngậm thấm nước. Với đề xuất Quy hoạch sử dụng đất dọn đường cho phát triển BĐS tràn lan, chỉ 5-10 năm tới không còn không gian để xây dựng Thủ đô Hà Nội có đủ nước sạch, lại càng không có cơ hội thể trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hóa, hội nhập quốc tế.
Pano 08, 09 & 10 “Thiết kế đô thị” không kế thừa giá trị văn hoá lịch sử và thiếu đổi mới sáng tạo: Hà Nội không thể trở thành Thủ đô “Văn hiến-Văn minh-Hiện đại-Hạnh phúc”
Hà Nội có ngàn năm lịch sử tồn tại và phát triển trên nền tảng những giá trị vĩnh cửu và đổi thay, nhờ có “ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” [2]. Ngàn năm qua, tổ tiên ta đã chắt chiu gây dựng nên làng xóm ruộng vườn, hồ ao rừng núi, đình chùa đền miếu. Trong Pano 08, 09 & 10 “Thiết kế đô thị” của TLQH đã nhặt nhạnh những hình ảnh vô hồn dán vào quê hương xứ Đông, xứ Đoài yêu dấu, Sông Hồng hùng vĩ, Hồ Tây lãng đãng, phố cũ lịch lãm, phố cổ đậm đặc hồn cốt.
“Thiết kế đô thị” của TLQH còn bỏ qua những giới định của Luật Đê điều, Luật Tài nguyên nước để vẽ viễn cảnh loè loẹt vào hành loang thoát lũ, không gian bán ngập. Lấy những phương án thiết kế đô thị chất lượng thấp đang bị dư luận phê phán, tạm dừng để đưa vào minh hoạ, phải chăng có dụng ý hợp thức hoá các sản phẩm này? Tuy không cần thể hiện hết những giá trị vĩnh cửu của Hà Nội nhưng không thể bỏ qua những không gian tối quan trọng như Hoàng Thành Thăng Long, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Cổ Loa, Trung tâm Hồ Gươm, Ba Đình … thay vào đó là những minh hoạ sao chép các nội dung hoặc không liên quan gì tới tầm nhìn Thủ đô “Văn hiến-Văn minh-Hiện đại-Hạnh phúc”, hoặc những đề xuất rất tầm thường, không xứng đáng với kiến trúc “hội tụ và lan tỏa tinh hoa văn hóa, trí tuệ và nguồn lực của đất nước; trung tâm kiến tạo, giữ vai trò dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới; là hạt nhân, trung tâm kết nối và động lực phát triển của cả vùng và cực tăng trưởng của cả nước” [1].
Kiến trúc sư Hà Nội đề xuất phương án Quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đặt ra trong Nghị quyết 02-NQ/TW
Trong nhiều năm qua, các KTS Hà Nội đã hợp tác với các chuyên gia trong nước, quốc tế để tìm ra những giải pháp tiến bộ cho Thành phố (nhóm “City Solution”), không chỉ nghiên cứu lý thuyết mà còn thực nghiệm tại Hà Nội, và đã tổng hợp kinh nghiệm để truyền thông tới xã hội: từ phát triển sân chơi cộng đồng tại các khu dân cư đến các dự án nghệ thuật cộng đồng; Từ tuyến đi bộ an toàn cho trẻ em từ nhà đến trường trong các khu phố đến những phân tích giao thông tổng thể đô thị, làm sao tiết kiệm được thời gian mà không lãng phí không gian; Từ giải pháp thu gom và xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học an toàn và rẻ tiền đến những thảo luận những giải pháp đảm bảo nguồn nước sạch cho cả thành phố; Từ ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý cải tạo chung cư cũ đến giải pháp mở rộng, tăng sức sống cho không gian lịch sử văn hoá.
Nhóm City Solution đã nghiên cứu Nghị quyết 02-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới, trong đó chỉ đạo “Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn dài hạn 100 năm, ổn định theo không gian phát triển mở, cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái-văn hóa chủ đạo; gắn kết chặt chẽ với vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía bắc và các hành lang kinh tế quốc gia, quốc tế.” [1], đồng thời kế thừa các nghiên cứu đô thị Hà Nội do các chuyên gia quốc tế thực hiện để đề xuất mô hình liên kết vùng Thủ đô Hà Nội trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài.
City Solution đã sớm nhận thấy hạn chế của định hướng liên kết vùng không đạt yêu cầu do lấy cơ sở kết nối bằng đường bộ, tốc độ thấp, bán kính vùng <30km, dẫn đến một chuỗi đề xuất tiếp theo không đạt yêu cầu (Pano3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 của TLQH). City Solution đã tiếp cận nội dung liên kết vùng bằng đường sắt liên vùng, liên vận quốc tế tốc độ cao (160km/h) hiện đã khởi động tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, Hà Nội-Gia Bình-Hạ Long, Hà Nội-Lạng Sơn và Đường sắt cao tốc Bắc Nam… để định hướng liên kết vùng. Nếu với Đường sắt tốc độ cao 160km/giờ, tốc độ khai thác thương mại 100km2 thì các đô thị kế cận có khoảng cách kết nối trung tâm Hà Nội tăng lên R= 60km-100km.
Tương lai mạng lưới ĐSĐT và đường sắt quốc gia tầm nhìn 100 năm cũng đặt ra những yêu cầu mang tính thời đại, khi nhân loại đang phát triển nhiều loại hình vận chuyển mới như tàu đệm từ Maglev tốc độ 600 km/h chạy ngoài trời hay trong đường ống chân không (Hyperloop) tốc độ 1.000 km/h; hoặc vận tải hàng không tầm thấp (UAV/Drone)… sẽ trở nên phổ biến trong 20-30 năm tới sẽ tác động tới quy hoạch đường sắt trong tầm nhìn 100 năm.
Kết nối đường sắt liên vùng liên vận quốc tế là mạng lưới đường sắt ngoại ô (commuter rail) hoà vào mạng lưới đường sắt đô thị, tạo thành một mạng lưới di chuyển nhanh từ trung tâm tới các đô thị kế cận trong thời gian di chuyển bằng đường sắt 30 phút, hoặc các loại hình khác trong khoảng 60 phút: tạo thành mạng lưới các đô thị kế cận độc lập tại địa phương nhưng liên kết vệ tinh với Hà Nội, như vậy đúng với chỉ đạo của Nghị quyết 02-NQ/TW là “trung tâm kiến tạo, giữ vai trò dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới; là hạt nhân, trung tâm kết nối và động lực phát triển của cả vùng và cực tăng trưởng của cả nước; dẫn đầu cả nước và vươn tầm khu vực”. [1]
Với cấu trúc liên kết đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, hàng không tầm thấp như vậy sẽ có nhiều chia sẻ nguồn lực từ các địa phương trong vùng Thủ Đô. Ví dụ như sẽ có rất nhiều quỹ nhà ở các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, hoàn toàn có thể bố trí cho hơn 10-15 triệu cư dân Vùng Thủ đô. Không chỉ phân bổ không gian định cư mà còn tạo ra những vành đai Xanh sinh thái bao quanh các đô thị, tạo thành vành đai luân chuyển vật chất đô thị - nông thôn, tái sinh nước thải, rác hữu cơ sản xuất cung ứng thực phẩm nước sạch, tạo lập mạng lưới các đơn vị tự chủ sinh thái tuần hoàn bền vững. Mạng lưới ĐSĐT và đường sắt quốc gia tạo mối liên kết tương tác hỗ trợ lẫn nhau trong vùng Thủ đô sẽ biến Hà Nội thành trung tâm dẫn dắt phát triển cho cả vùng, tạo ra động lực cho các địa phương trong vùng cùng phát triển với những thế mạnh riêng, đúng với tinh thần chỉ đạo của Tổng bí thư Tô Lâm trong cuộc làm việc với Đảng bộ Hà Nội đầu năm 2026 :“Hà Nội không thể phát triển theo tư duy của một địa phương lớn, mà phải được định vị và vận hành như một trung tâm kiến tạo phát triển quốc gia, có vai trò dẫn dắt và lan tỏa. Mỗi vấn đề Hà Nội giải quyết hiệu quả sẽ có tác động lớn đến cách nghĩ, cách làm của các địa phương khác.”
City Solution đề xuất mô hình liên kết Hà Nội với các địa phương theo đúng chỉ đạo của Nghị quyết 02-NQ/TW : “Xây dựng và phát triển Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc"; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đặt văn hoá ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, "Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo" là giá trị cốt lõi xuyên suốt, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm, nền tảng hình thành bản lĩnh, trí tuệ và động lực phát triển. Phát triển Thủ đô nhanh, bền vũng, thông minh, hiện đại, bao trùm gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu;”. [1]
Chi tiết của các giải pháp cụ thể sẽ được trình bày trong các bài tiếp theo.




















Ý kiến của bạn