Bài 2: Hiện trạng và những điểm nghẽn: Khơi thông những hạn chế trước mắt đồng thời mở đường cho phát triển lâu dài

Góp ý quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm

Bài 2: Hiện trạng và những điểm nghẽn: Khơi thông những hạn chế trước mắt đồng thời mở đường cho phát triển lâu dài

(Vietnamarchi) - Thành phố Hà Nội lấy ý kiến của nhân dân đối với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Tài liệu có 18 bản vẽ và 1.100 trang thuyết minh. Bài viết đóng góp vào nội dung bản vẽ Hiện trạng toàn thành phố và Giải quyết các điểm nghẽn.
15:00, 17/03/2026

Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội cần tiếp cận tích hợp cao

Thủ đô Hà Nội lập bản Quy hoạch mới nhằm khắc phục hạn chế của các bản quy hoạch đã thực hiện trước đây. Các bản quy hoạch cũ thiếu tính khả thi do không tích hợp đồng bộ, nên bản quy hoạch đang xin ý kiến cần chú trọng phương pháp tiếp cận tích hợp đồng bộ cao, mới có thể huy động nguồn lực giải quyết nhiều tồn tại cùng lúc, đồng thời phải ứng dụng công nghệ số để điều phối mối quan hệ đa ngành, giải quyết đa mục tiêu, mang lại đa lợi ích…

Pano 2 “Bản đồ hiện trạng toàn thành phố” trong Tài liệu Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (gọi tắt là TLQH) không thể chỉ dừng lại ở việc mô tả địa hình và khoanh vùng đặt tên, mà cần chỉ ra những thuận lợi & thách thức của thực trạng KT-VH-XH, trong đó có nhận diện tổng quát những bất cập, thiếu hụt cần bổ sung và những lĩnh vực đã bão hoà, dư thừa cần điều chỉnh. Bám sát các điểm nghẽn để tập trung tháo gỡ trên cơ sở những điểm mạnh yếu của hiện trạng để lựa chọng các giải pháp theo định hướng lồng ghép / tích hợp đa mục tiêu vừa khắc phục hạn chế lại tạo ra những giá trị mới để thức đẩy phát triển.

Pano số 2 “Bản đồ hiện trạng toàn thành phố"

Những điểm nghẽn hiện tại là hiện trạng của thành phố

Pano 16: “Giải quyết những vấn đề tồn tại, điểm nghẽn”, mục (1) “Vấn đề tắc nghẽn giao thông” là điểm nghẽn có nguyên nhân từ việc thiếu hạ tầng (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, bãi đỗ, cầu…). Sự thiếu hụt này xuất phát trực tiếp từ chất lượng quy hoạch còn hạn chế. Nhiều tuyến đường được vẽ ra nhưng thiếu khảo sát và dự báo đầy đủ, dẫn đến không khả thi do thiếu quỹ đất, thiếu nguồn vốn đầu tư và không đủ sức thuyết phục nhà đầu tư. Điển hình là việc quy hoạch tuyến đường sắt đô thị có chi phí rất cao đi qua khu vực có nhu cầu thấp, đồng thời không còn quỹ đất để bố trí depot, như trường hợp tuyến ĐSĐT Ga Hà Nội - Hoàng Mai. Hệ quả là dự án phải dừng lại và chuyển hướng nghiên cứu phương án khác - Hạn chế này này sẽ đặt ra câu hỏi tính khả thi của đề xuất đầu tư ĐSĐT trị giá nhiều chục tỷ USD?

Pano số 16 "Giải quyết những vấn đề tồn tại, điểm nghẽn" trong đó đề cập 3 điểm nghẽn: (1) Tắc nghẽn giao thông, (2) Ô nhiễm môi trường, (3) Vấn đề ngập úng

Trong TLQH, nội dung hiện trạng giao thông Thủ đô không thể vẽ theo lối cũ mà cần dùng công nghệ GIS để mô tả thực trạng di chuyển trong thành phố Hà Nội trong 30 phút/60 phút sẽ đi được tới đâu? và dự kiến cải thiện điểm nghẽn này bằng cách nào? Nếu bằng hệ thống GTCC thì hiện tại hệ thống này đang đáp ứng 20% như công bố hay chỉ 5% như chuyên gia quốc tế đã nhận định? Dữ liệu hiện trạng về nhu cầu và khả năng đầu tư, hiệu quả đầu tư đáng tin cậy thì mới đề ra giải pháp khả thi. Nếu thông tin hiện trạng sơ sài thì giải pháp không khả thi mà còn tạo ra điểm nghẽn mới: giải pháp mơ hồ về nguồn lực, tiến độ, đánh giá hiệu quả đầu tư. Mục (1) trong Pano 16 còn nhầm lẫn nguyên nhân với hậu quả, còn giải pháp đề xuất thì nhầm thành mục tiêu. Những viễn cảnh copy từ các mô hình nhập khẩu không liên quan gì đến thực trạng Hà Nội, trong khi giải pháp sử dụng hệ thống giám sát giao thông đô thị bằng camera AI đang thực hiện rất thành công tại Hà Nội thì không mô tả.

Mục 2&3 (Pano 16) đề cập 2 điểm nghẽn “Ô nhiễm môi trường” và “Vấn đề úng ngập” chỉ ra nguyên nhân tại quy hoạch cũ, nhưng đề xuất quy hoạch mới còn sai lầm lớn hơn. Trong ra soát đánh giá quy hoạch 1259 sau 10 năm thực hiện (2011-2021) đã chỉ ra sai lầm của mô hình thu gom và xử lý nước thải tập trung, cần thiết phải thay đổi bằng mô hình phân tán hoặc bán tập trung thì nay vẫn đề xuất mô hình thu gom và xử lý nước thải tập trung quy mô lớn hơn, không chỉ thành phố mà còn quy mô cả vùng, vừa tốn kém đầu tư, vừa rủi ro vận hành. Tài liệu hiện trạng trình bày địa hình tự nhiên Hà Nội thấp dần từ Bắc xuống Nam và hệ thống sông Hồng, Nhuệ, Đáy chảy cùng hướng bao đời nay… nhưng lại nêu lý do úng ngập là do “địa hình lòng chảo khó thoát nước”, từ đó đề xuất những giải pháp đắt đỏ và không khả thi: đào bể ngầm, sông ngầm quy mô lớn. Đề xuất mở rộng lòng sông, không gian thấm hút nhưng lại vẽ rất nhiều đô thị vào đất “thuận lợi xây dựng” dày đặc trong vùng trũng thấp.

Tấy cả các sông, hồ, vùng bán ngập (trũng thấp) tại Hà Nội ngoài nhận nước mưa ra còn lại tất cả nhận nước từ sông Hồng - Đà. Tài liệu hiện trạng có vẽ mạng lưới sông hồ, hành lang xanh... nhưng không đủ thông tin ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, nhiễm mặn, nhiễm độc Asen (theo báo cáo Tài nguyên nước quốc gia) và chế độ thuỷ văn của lưu vực sông Hồng- Thái Bình… vì vậy đề xuất các giải pháp khắc phục điểm nghẽn ô nhiễm môi trường và úng ngập đô thị còn thiếu cơ sở khoa học, không bền vững, tốn kém và bất khả thi. Đặc biệt các đề xuất này đi ngược với cách tiếp cận hệ sinh thái tuần hoàn (tái dụng khí thải, rác thải, nước thải) vào sản xuất chăn nuôi, trồng trọt, vật liệu sinh học. Đề xuất bỏ qua những lợi ích đã từng tạo ra nhiều kết quả khả quan từ thực tiễn vành đai xanh thực phẩm Hà Nội, Hành lang Xanh, hệ sinh thái sông Hồng… thay vào đó là những đề xuất thiếu cơ sở lý luận cũng như thực tiễn như tạo tường xanh, vành đai xanh Đông Bắc, tách ròng thải… Những giải pháp không khả thi và không cơ sở lý luận, pháp lý; không rõ nguồn lực, lộ trình thực hiện; không cải thiện ô nhiễm, ngập ũng mà còn gây trở ngại, làm điển nghẽn trầm trọng hơn.

Khai thông những điểm nghẽn từ những bài học trong nước và quốc tế

Pano 17 “Tái cấu trúc đô thị” vội vàng đưa ra những mô hình mới “đa tầng / đa lớp” trong khi chưa nhận diện đầy đủ cấu trúc đô thị Hà Nội: mới chỉ liệt kê khu phố cổ, khu phố cũ và khu chung cư cũ. Thực tế cấu trúc tổng thể của Hà Nội vốn đã có sẵn sự gắn kết các làng nghề truyền thống trong vùng Thủ đô với phố nghề trong khu phố cổ Hà Nội. Đặc biệt hơn là nhờ mối quan hệ khăng khít giữa đô thị và nông thôn mật thiết nên đã tạo thành một môi trường sống an toàn bền vững vượt qua nhiều thách thức. Trong thời bao cấp (trước 1986), ngoại thành Hà Nội có dân số 0,5 triệu người, diện tích 400km2 luôn đảm bảo lương thực thực phẩm cho hơn 1 triệu người sống trong 44km2 nội thành. Trong đại dịch Covid (2021-2022), phong toả toàn quốc nhưng cả nội thành lẫn ngoại thành không ai bị thiếu đói. Mô hình vành đai Xanh sản xuất nông nghiệp Hà Nội đã rất thành công trước những năm 1990 và đã từng được các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang các nước Châu Phi cùng thời gian đó. Do nhận diện không đầy đủ về cấu trúc hữu cơ nông thôn và đô thị Hà Nội, nên không chỉ ra nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng lớn khi Hà Nội tiếp tục mở rộng đô thị trong khi không có chiến lược thu gom xử lý nước thải, rác thải tại nguồn và đặt cược vào mô hình xử lý nước thải rác thải tập trung xử lý bằng cơ lý hoá chất và đốt quy mô lớn: đặc trưng của dòng vật chất chuyển hoá tuyến tính/phi tuần hoàn. Nguy hại lớn hơn là tạo ra một cộng đồng cư dân từ đô thị tới nông thôn không chịu trách nhiệm với rác thải và nước thải do mình tạo ra mà đẩy hết cho xã hội, thành phố gánh vác trách nhiệm đầu tư cho hệ thống thu gom xử lý. Nhiều thành phố trên thế giới đã gặp phải khủng hoảng khi thiếu nguồn lực đầu tư và duy trì… Hà Nội cũng gặp phải vấn nạn này mỗi khi các địa phương không nhận rác.

Pano số 17 "Giải quyết những vấn đề tồn tại, điểm nghẽn" đề cập tới điểm nghẽn thứ 4: Tái cấu trúc đô thị

Trong khi các quốc gia tân tiến khuyến khích các thành phố nghèo phát triển mô hình thu gom và xử lý nước thải rác thải tập trung (để họ bán được công nghệ, máy móc) thì họ đẩy mạnh mô hình xử lý nước thải rác thải tại nguồn/phân tán hoặc bán tập trung. Nhật Bản đã hỗ trợ 70% ngân sách đầu tư cho tất cả các hộ dân nếu lắp đặt hệ thống thu gom xử lý nước thải tại nguồn (gọi tắt là Jokashou). Thành phố Tokyo đã vận hành gần 30 nhà máy xử lý nước thải, rác thải sinh hoạt kết hợp phát điện tại 23 quận trung tâm Tokyo. Tất cả các nhà máy đặt dưới ngầm, bên trên là sân tennis, bể bơi, nơi sinh hoạt công cộng… Mỗi gia đình là một đơn vị tự chủ sinh thái nhỏ nhất, mỗi quận là một đơn vị tự chủ sinh thái hoàn toàn: không có địa phương nào đổ nước thải hay rác thải sang địa phương khác. Các chế phẩm tái chế rác thải sinh hoạt được đóng gói và liên kết với các vùng sản suất nông nghiệp làm phân bón.

Pano 18 “An toàn Thực phẩm”, Những vấn đề mất an toàn thực phẩm xuất hiện khi khoảng cách vận chuyển, bảo quản, phân phối thực phẩm ngày càng lớn. Đi cùng mở rộng đô thị, thu hẹp vùng sản xuất nông nghiệp là việc gia tăng các phế thải nông nghiệp và đô thị (rơm rạ, rác hữu cơ, nước thải sinh hoạt phân chuồng và phế thải sinh hoạt…). Giảm phân bón hữu cơ là gia tăng phân bón vô cơ, hoá chất bảo vệ thực vật, tăng sản và bảo quản… thực phẩm ngày càng mất an toàn.

Pano số 18 "Giải quyết những vấn đề tồn tại, điểm nghẽn" tiếp tục nội điểm nghẽn thứ 4: Tái cấu trúc đô thị và thêm điểm nghẽn tứ 5: An toàn thực phẩm

Nhận diện hiện trạng không đầy đủ dẫn đến đề xuất giải pháp tái cấu trúc đô thị và tăng cường an toàn thực phẩm chủ quan, không khả thi. Hà Nội tái thiết đô thị trong bối cảnh thay đổi cơ cấu hành chính 530 xã phường của 30 quận huyện cũ thành 126 xã phường - Mỗi đơn vị này có đủ diện tích, dân số để hình thành một “đơn vị tự chủ sinh thái” phù hợp, đơn vị trong đô thị hày ngoài nông thôn có thể hình thành mối quan hệ hữu cơ để các dòng vật chất chuyển đổi tuần hoàn. Mỗi đơn vị sinh thái không chỉ nhận được thực phẩm rõ nguồn gốc, chất lượng mà còn là đơn vị không thải ra môi trường những phế thải độc hại: mỗi đơn vị, cá nhân trở thành những cá thể tiêu dùng vật chất có trách nhiệm và là hạt nhân của một Thành phố, của cả xã hội phát triển bền vững, an toàn.

Việc tái thiết từ đô thị đến nông thôn, không chỉ trong phố cũ hay khu phố cổ, bảo tồn di sản hay cải tạo chung cư cũ, mà còn ngay trên những đường phố bên cạnh những con đường lớn mới hoàn thành, bên cạnh tuyến đường sắt đô thị đang chạy hay các khu đô thị ma,… Đây là một tiến trình thực hiện liên tục 5-10 năm hay vài chục năm cho đến trăm năm… Tiến trình này không chỉ dừng lại bởi mấy bản vẽ thiết kế 2D, 3D mà là cả một quá trình tiến hoá của mô hình tài chính đầu tư, luật pháp quy định, bộ máy quản trị, vận hành, khai thác cùng vớ sự tích luỹ của từng cá nhân cho đến cả xã hội. Tiến trình đó bắt đầu từ văn hoá tiêu dùng vật chất có trách nhiệm: xác định rõ nguồn gốc của lương thực, hàng hoá và quyết định chuyển hoá nó thành năng lượng tích cực và không thải loại nó một cách vô trách nhiệm. Tất cả tiến trình đó có sự tham gia của mỗi người trong thành phố có gần 10 triệu người. Mối quan hệ phức tạp đó nay được đơn giản nhờ công nghệ số với bộ ba ứng dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS), Mô hình thông tin công trình (BIM) và Môi trường dữ liệu dùng chung (CDE). Hà Nội đang đẩy mạnh hoàn thành GIS, đã quy định bắt buộc các dự án đầu tư xây dựng phải dùng BIM và yêu cầu tất cả các công dân, công chức giao dịch trên CDE. Chỉ có thể giám sát, đánh giá luồng lưu chuyển vật chất một cách chính xác và hiệu quả nhờ hệ thống đo lường mới với sự hỗ trợ của GIS-BIM-CDE. Hà Nội không thể tiến hoá trong kỷ nguyên mới bằng công cụ, phương pháp cũ. Do vậy để thực thi giải toả điểm nghẽn An toàn Thực phẩm và Tái thiết đô thị, TLQH cần lập trình dựa trên công nghệ số thay cho các bản vẽ trình bày trong pano số 2, 16, 17, 18 hiện tai còn hạn chế nội dung, không thuyết phục.

Bài 1: Vị trí Hà Nội và mối liên hệ vùng qua cách tiếp cận tĩnh và động

Thành phố Hà Nội lấy ý kiến của nhân dân đối với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Tài liệu có 18 bản vẽ và 1.100 trang thuyết minh. Bài viết đóng góp vào nội dung bản vẽ số 1: “Tổng quan Vị trí và mối liên hệ vùng”.

Hà Nội trước yêu cầu đột phá hạ tầng giao thông

Giảm ùn tắc giao thông không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà là thước đo năng lực quản trị đô thị và tư duy phát triển dài hạn của Hà Nội. Định hướng Hà Nội phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số …đã một cơ hội lớn để thay đổi cách làm cũ.

Đại lộ cảnh quan và phát triển ven sông Hồng: Đâu là ranh giới giữa giao thông và đê điều?

Hà Nội đã khởi công dự án Đại lộ cảnh quan sông Hồng với thông tin mới dừng ở mức định hướng tổng thể. Tuy nhiên, đằng sau nghi thức khởi công là hàng loạt câu hỏi quy hoạch cần được giải đáp: vị trí tuyến đường, quan hệ với hành lang thoát lũ, bài toán di dân - giải phóng mặt bằng và sự phù hợp với Luật Đê điều? Khi sông Hồng vừa là không gian nước, vừa là hệ sinh thái sống còn của đô thị, mọi quyết định can thiệp đều cần được cân nhắc thận trọng, trên nền tảng pháp lý và tầm nhìn phát triển bền vững dài hạn.

Bảo tồn, phát huy các giá trị “bất biến” của hồ Gươm là tiền đề xây dựng một đặc khu, một di sản văn hóa thế giới mới

(KTVN 257) Khu vực Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) và Phố cổ Hà Nội là nơi tích tụ, tiếp biến văn hiến hơn ngàn năm qua, vừa sâu sắc huyền bí, vừa nhiều giá trị hấp dẫn, được coi như là trái tim trong mọi quyết sách và là một yếu tố “bất biến” trong quy hoạch phát triển đô thị Thủ đô Việt Nam (Trường, 2025). Nên đánh giá, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị “bất biến” của khu vực Hồ Gươm sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược phù hợp với phát triển bền vững không gian di sản đô thị Hà Nội.

Không có giấy phép xây dựng vẫn còn nhiều cách để quản lý việc xây dựng

Theo chuyên gia việc giữ hay bỏ giấy phép xây dựng cần thực hiện một cách nghiêm túc dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật (RIA) để loại bỏ tình huống “giấy phép mẹ đẻ giấy phép con”, giảm nguy cơ cơ chế xin cho ở các cơ quan quản lý địa phương, kể cả quản lý xây dựng hay quản lý hành chính...

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh