Áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển bền vững ngành xi măng tại Việt Nam

Áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển bền vững ngành xi măng tại Việt Nam

(Vietnamarchi) - Tại Hội thảo “Hướng đi xanh cho doanh nghiệp xi măng phát triển bền vững và giảm dấu chân carbon” do Tạp chí Xây dựng vừa tổ chức tại Hà Nội, TS. Hoàng Hữu Tân - Phó Vụ trưởng Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng đã trình bày tham luận “Ngành Xi măng Việt Nam hướng tới phát triển bền vững” nhằm xác định một số mục tiêu, định hướng, áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến để phát triển ngành xi măng Việt Nam trong giai đoạn tới.
12:04, 27/10/2024

Mới đây, tại Bộ Xây dựng, Tạp chí Xây dựng đã tổ chức Hội thảo trực tiếp và trực tuyến “Hướng đi xanh cho doanh nghiệp xi măng phát triển bền vững và giảm dấu chân carbon”. Hội thảo có ý nghĩa quan trọng giúp các cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn và doanh nghiệp xi măng trao đổi, thảo luận về những vấn đề thiết yếu mà ngành đang đối mặt, đây cũng là dịp để doanh nghiệp hiểu rõ hơn các quy định về giảm phát thải khí nhà kính. Đặc biệt, tại Hội thảo TS. Hoàng Hữu Tân - Phó Vụ trưởng Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng đã trình bày tham luận “Ngành Xi măng Việt Nam hướng tới phát triển bền vững”…

Tổng quan ngành công nghiệp xi măng tại Việt Nam

Theo TS. Hoàng Hữu Tân - Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Công nghiệp xi măng Việt Nam đã hình thành và phát triển từ năm 1899 với các nhà máy xi măng lò đứng. Định hướng phát triển ngành xi măng Việt Nam trong thời gian tới là sử dụng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải; gắn sản xuất với tái chế, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường.

TS. Hoàng Hữu Tân – Vụ Phó Vụ Vật liệu xây dựng – Bộ Xây dựng trình bày tham luận
TS. Hoàng Hữu Tân – Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng (bên phải) trình bày tham luận tại Hội thảo. 

Bên cạnh đó, TS. Hoàng Hữu Tân cũng cho biết, về quy mô và công nghệ, hiện nay ngành Công nghiệp xi măng Việt Nam có 92 dây chuyền sản xuất clanhke xi măng, công suất 122,34 triệu tấn XM/năm; về nguyên liệu, sử dụng trung bình 1.55 tấn nguyên liệu (đá vôi, đất sét, phụ gia)/tấn clanhke; về nhiệt năng, tiêu tốn trung bình 800 kcal/kg clanhke (tùy vào lò nung); về điện năng tiêu hao trung bình 95 kWh/tấn xi măng. Đặc biệt, cả nước ta hiện đã lắp đặt 34 dây chuyền với công suất 248 MW(tiết kiệm khoảng 20-30% lượng điện năng tiêu thụ)…

Mục tiêu phát triển ngành xi măng Việt Nam giai đoạn 2021-2030

Đối với mục tiêu phát triển ngành xi măng giai đoạn 2021-2030, về đầu tư, nước ta chỉ đầu tư mới nhà máy sản xuất clanhke đáp ứng được các tiêu chí gồm: Xây dựng mới các nhà máy sản xuất clinker có công suất trên 5.000 tấn/ngày/dây chuyền, gắn với vùng nguyên liệu, đầu tư đồng thời hệ thống tận dụng nhiệt khí thải và các chỉ tiêu công nghệ môi trường khác.

Đến năm 2025, các dây chuyền clinker có công suất dưới 2.500 tấn/ngày sẽ phải đổi mới công nghệ; đầu tư trạm nghiền công suất phù hợp với vùng nguyên liệu; tăng tỉ lệ pha phụ gia.

Đồng thời, ngành cũng đặt các mục tiêu về công nghệ bao gồm: Mục tiêu tiêu hao nhiệt năng nhỏ hơn hoặc bằng 730 kcal/kg clinker; tiêu hao điện năng nhỏ hơn hoặc bằng 90 kWh/tấn xi măng, nhỏ hơn hoặc bằng 65 kWh/tấn clanhke.

Yêu cầu phát thải giai đoạn 2021-2030
Mục tiêu, yêu cầu phát thải giai đoạn 2021-2030.

Đến hết năm 2025, 100% dây chuyền clinker lớn hơn 2.500 tấn/ngày phải có hệ thống tận dụng nhiệt khí thải; đến 2025, sử dụng tối thiểu 20%, 2030 – tối thiểu 30% tro bay, chất thải...làm nguyên liệu thay thế và lượng nhiên liệu thay thế lên đến 15% tổng nhiên liệu. Tận dụng nhiệt khí thải để phát điện với mục tiêu tiết kiệm được khoảng 20% - 30% tổng lượng điện tiêu thụ, giảm lượng phát thải bụi và khí CO2.

Về mục tiêu khai thác sử dụng tài nguyên, sử dụng tiết kiệm khoáng sản; khuyến khích khai thác âm, khai thác giữ lại hình dáng, cảnh quan thiên nhiên và tận dụng tối đa các loại chất thải làm nguyên/nhiên liệu, phụ gia cho sản xuất.

Về mục tiêu bảo vệ môi trường, 100% các cơ sở đáp ứng yêu cầu về môi trường; chuyển đổi hình thức lọc bụi; sử dụng thiết bị giám sát nồng độ bụi có kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý môi trường.

Định hướng phát triển ngành xi măng Việt Nam giai đoạn 2031-2050

Một trong những định hướng phát triển ngành xi măng Việt Nam giai đoạn 2031-2050 là tăng tỷ lệ pha phụ gia; áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến để đạt các chỉ tiêu sau: Tiêu hao nhiệt năng nhỏ hơn hoặc bằng 700 kcal/kg clanhke; tiêu hao điện năng nhỏ hơn hoặc bằng 80 kWh/tấn xi măng.

Định hướng yêu cầu phát thải giai đoạn 2031-2050
Định hướng, yêu cầu phát thải giai đoạn 2031-2050.

Tối thiểu 60% số dây chuyền sử dụng tro bay, chất thải...làm nguyên liệu thay thế; Sử dụng trên 30% lượng tro bay, xỉ, chất thải công nghiệp...làm phụ gia; Lượng nhiên liệu thay thế (từ xử lý rác, chất thải...) lên đến 30% tổng nhiên liệu sản xuất.

Trong đó, sẽ sử dụng chất thải, rác thải làm nguyên nhiên liệu. Cụ thể, các dây chuyền sản xuất xi măng đã có sẵn các thiết bị đốt (lò nung, tháp trao đổi nhiệt,..), các thiết bị bảo vệ môi trường (lọc bụi túi, lọc bụi điện, ống khói,..); chi phí đầu tư xây dựng, lắp đặt thiết bị để đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng thấp hơn đầu tư xây dựng các lò đốt rác; đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và góp phần giảm lượng chất thải mang đi chôn lấp,... mang lại hiệu quả về kinh tế trong sản xuất xi măng.

Đối với phạm vi, quy mô và giải pháp thực hiện sẽ tận dụng được các lò nung sản xuất clanhke đốt ở nhiệt độ cao để xử lý được hầu hết các loại chất thải khác nhau, không phát sinh phát thải, góp phần giảm phát thải ra môi trường,…; đầu tư mới/ cải tạo tháp trao đổi nhiệt, thiết bị làm nguội, hệ thống vòi đốt, hệ thống kho chứa và lưu trữ chất thải; thiết bị chế biến, vận chuyển chất thải, hệ thống cung cấp chất thải vào hệ thống lò nung, thiết bị an toàn, phòng chống cháy nổ, đo lường và kiểm soát phát thải, xử lý phát thải phát sinh ra môi trường. Hướng tới mục tiêu chung là đẩy mạnh phát triển kinh tế tuần hoàn trong sản xuất xi măng: sử dụng tro, xỉ làm nguyên liệu và phế thải, rác thải nhiên liệu tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính (CO2, CH4, N2O, HFCs) ra môi trường.

Bể bơi nâng hạ : Giải pháp kiến trúc cho biệt thự đô thị

Bể bơi nâng hạ trở thành giải pháp kiến trúc thông minh, cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa hồ bơi và các không gian sinh hoạt trên cùng một diện tích. Không chỉ tối ưu hóa quỹ đất trong biệt thự đô thị, giải pháp này còn đáp ứng đồng thời yêu cầu về an toàn, thẩm mỹ và chất lượng sống hiện đại.

Brasler Việt Nam: Thiết bị vệ sinh – “điểm nút” trong chiến lược xanh hóa nhà ở xã hội

Trong bối cảnh phát triển nhà ở xã hội (NOXH) đang chuyển từ mục tiêu “đủ về lượng” sang “tốt về chất”, bài toán cân bằng giữa chi phí đầu tư, hiệu quả vận hành và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết. Không còn là hạng mục phụ trợ, thiết bị vệ sinh đang nổi lên như một “điểm nút” quan trọng, tác động trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài nguyên, chi phí vòng đời công trình và chất lượng sống của cư dân. Xoay quanh vấn đề này, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (Viện Kiến trúc Quốc gia – Bộ Xây dựng) đã có cuộc trao đổi với ông Ngô Duy Hòa – Giám đốc Công ty Cổ phần Brasler Việt Nam, nhằm làm rõ vai trò của thiết bị vệ sinh trong tiến trình “xanh hóa” nhà ở xã hội từ góc nhìn doanh nghiệp sản xuất.

Giải pháp cửa chống cháy bảo đảm an toàn cho nhà ở xã hội theo tiêu chuẩn hiện đại

Trong bối cảnh chương trình phát triển 1 triệu căn nhà ở xã hội đang được thúc đẩy mạnh mẽ, bài toán an toàn phòng cháy, chữa cháy (PCCC) không còn là yêu cầu kỹ thuật đơn thuần mà đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng và tính bền vững của công trình. Đặc biệt, hệ thống cửa chống cháy tại căn hộ – vị trí tưởng chừng nhỏ nhưng lại giữ vai trò “chốt chặn” quan trọng – đang cần được nhìn nhận đúng mức.

“Xanh” hóa nhà ở xã hội từ thiết bị vệ sinh: Giải pháp nhỏ cho bài toán lớn của đô thị bền vững

Trong tiến trình phát triển đô thị bền vững, nhà ở xã hội không chỉ giải quyết nhu cầu an cư mà còn góp phần định hình cấu trúc đô thị hiện đại, nhân văn. Tuy nhiên, áp lực chi phí đầu tư khiến nhiều dự án cắt giảm hạng mục kỹ thuật, đặc biệt là thiết bị vệ sinh, dẫn đến xuống cấp, rò rỉ và gia tăng chi phí vận hành. Trong bối cảnh đó, “xanh hóa” từ những yếu tố nhỏ như thiết bị vệ sinh trở thành hướng đi thiết thực. Các giải pháp như vòi tạo bọt, xả hai chế độ hay vật liệu bền, an toàn giúp tiết kiệm nước, kéo dài tuổi thọ công trình và giảm áp lực lên hạ tầng đô thị.

Hướng đi nào cho ngành gỗ nội thất Việt Nam?

Duy trì vị trí top 2 thế giới về xuất khẩu gỗ với kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm, ngành gỗ Việt Nam đang cho thấy một nhịp tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, đằng sau những con số ấy là câu hỏi về tính bền vững và hướng đi dài hạn: tăng trưởng đến đâu và đi theo con đường nào trong chuỗi giá trị toàn cầu?

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh