Cách xác định chi phí cấp mỏ, khai khác vật liệu xây dựng theo cơ chế đặc thù

Cách xác định chi phí cấp mỏ, khai khác vật liệu xây dựng theo cơ chế đặc thù

(Vietnamarchi) - Bộ Xây dựng vừa có công văn 5165/BXD-KTXD gửi Bộ Giao thông vận tải và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn việc xác định chi phí có liên quan đến cấp mỏ và khai khác vật liệu xây dựng theo cơ chế đặc thù.
21:23, 09/09/2024

Theo đó, thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao hướng dẫn phương pháp xác định giá vật liệu xây dựng tại mỏ đối với các mỏ khoáng sản khai thác làm vật liệu xây dựng thông thường theo cơ chế đặc thù, Bộ Xây dựng đã có văn bản số 4166/BXD-KTXD ngày 15/9/2023, văn bản số 641/BXD-KTXD ngày 19/02/2024 gửi Bộ Giao thông vận tải (Bộ GTVT), văn bản số 1338/BXD-KTXD ngày 28/3/2024 gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được giao làm cơ quan chủ quản đầu tư các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm.

Qua nắm bắt thực tiễn, việc xác định các chi phí liên quan đến cấp mỏ và khai thác vật liệu xây dựng tại mỏ theo cơ chế đặc thù còn một số vướng mắc, chưa thống nhất, một số địa phương, chủ đầu tư, nhà thầu còn lúng túng trong triển khai thực hiện. Để việc xác định các khoản mục chi phí được thực hiện thống nhất, tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và pháp luật khác có liên quan, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1. Đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (UBND cấp tỉnh) rà soát, phân công, phân cấp và quy định rõ trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể, cơ quan, đơn vị; nghiên cứu ban hành đầy đủ các quy định theo thẩm quyền về quản lý khai thác, vận chuyển, sử dụng vật liệu khai thác tại mỏ; quy trình, quy định về đền bù, triển khai, cấp phép khai thác mỏ theo cơ chế đặc thù.

2. Đối với các cơ quan được giao làm cơ quan chủ quản công trình, dự án, đề nghị chỉ đạo các chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan kiểm soát chặt chẽ nguồn vật liệu đã được cấp phép khai thác theo cơ chế đặc thù, đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tránh đầu cơ, trục lợi gây thất thoát, lãng phí.

3. Về xác định các khoản mục chi phí liên quan đến cấp mỏ và khai thác vật liệu xây dựng tại mỏ theo cơ chế đặc thù.

3.1. Các chủ đầu tư dự án và các chủ thể có liên quan:

a) Căn cứ điều kiện cụ thể, tình hình thực tế của từng mỏ, các quy định của pháp luật áp dụng cho dự án/công trình/gói thầu/hợp đồng, quy định của từng địa phương và nội dung các công việc cần triển khai thực hiện; rà soát, quyết định và chịu trách nhiệm về sự đầy đủ, tính chính xác của các khoản mục chi phí liên quan đến cấp mỏ và khai thác vật liệu xây dựng tại mỏ theo cơ chế đặc thù trên cơ sở tham khảo danh mục chi phí nêu tại Phụ lục kèm theo văn bản này.

b) Rà soát, phân định rõ: (1) Các khoản mục chi phí liên quan trực tiếp đến khai thác vật liệu, gắn với khối lượng khai thác; (2) Các khoản mục chi phí có tính chất chung liên quan đến cấp mỏ và khai thác vật liệu theo cơ chế đặc thù.

3.2. Các khoản mục chi phí liên quan đến việc tổ chức khai thác vật liệu tại mỏ theo cơ chế đặc thù được tính toán, xác định trong tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng (dự toán xây dựng công trình/dự toán gói thầu thi công xây dựng), tương ứng với từng giai đoạn triển khai dự án phù hợp các quy định của pháp luật áp dụng cho dự án, đáp ứng yêu cầu về tiến độ, chất lượng, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm chi phí đầu tư, theo đó:

a) Đối với các Dự án đang xác định tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng:

Các khoản mục chi phí nêu tại mục 3.1 văn bản này được xác định và kết cấu vào các thành phần chi phí trong tổng mức đầu tư/dự toán xây dựng đảm bảo phù hợp với tính chất của từng loại chi phí.

b) Đối với các dự án, gói thầu đã và đang lựa chọn nhà thầu nhưng chưa ký kết hợp đồng:

Chủ đầu tư chủ động rà soát chặt chẽ, hồ sơ mời thầu/nội dung hợp đồng, làm rõ nội dung công việc, chi phí liên quan đến khai thác vật liệu theo cơ chế đặc thù để lựa chọn nhà thầu/ký kết và thực hiện hợp đồng đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.

c) Đối với các gói thầu thi công xây dựng đã ký kết hợp đồng thi công thuộc dự án áp dụng cơ chế đặc thù:

Nhà thầu thi công xây dựng tổ chức lập dự toán chi phí, trình Chủ đầu tư thẩm định, phê duyệt. Trên cơ sở dự toán chi phí được duyệt, các bên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Luật Xây dựng, nội dung hợp đồng đã ký kết, các cơ chế đặc thù được phép áp dụng để quản lý hợp đồng thi công xây dựng của dự án.

3.3. Căn cứ trình tự thủ tục, quy trình cấp phép khai thác vật liệu theo cơ chế đặc thù của từng địa phương và trách nhiệm được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao, đề nghị UBND cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp, có ý kiến (theo đề nghị của chủ đầu tư) đối với các khoản mục chi phí thuộc phạm vi quản lý, hướng dẫn của địa phương.

3.4. Trong quá trình xác định chi phí có liên quan, nếu có vướng mắc hoặc chưa rõ, cần phân tích, đánh giá, làm rõ các khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị với các cơ quan quản lý tại địa phương để được hướng dẫn theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền của địa phương.

Đề nghị UBND cấp tỉnh, Bộ Giao thông vận tải tổ chức thực hiện, triển khai các nội dung nêu trên đến các chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan; tiếp tục chỉ đạo các đơn vị có liên quan tiếp tục rà soát trình tự, thủ tục triển khai thực hiện, các khoản mục chi phí có liên quan; nội dung, hồ sơ hợp đồng xây dựng đã ký kết; nhận diện, đánh giá những khó khăn, vướng mắc (nếu có) và đề xuất giải pháp khắc phục, kịp thời phản ánh để các cơ quan quản lý tại địa phương hướng dẫn theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền, Bộ Xây dựng xem xét, xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền của địa phương đảm bảo kế hoạch, tiến độ dự án theo yêu cầu.

Bể bơi nâng hạ : Giải pháp kiến trúc cho biệt thự đô thị

Bể bơi nâng hạ trở thành giải pháp kiến trúc thông minh, cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa hồ bơi và các không gian sinh hoạt trên cùng một diện tích. Không chỉ tối ưu hóa quỹ đất trong biệt thự đô thị, giải pháp này còn đáp ứng đồng thời yêu cầu về an toàn, thẩm mỹ và chất lượng sống hiện đại.

Brasler Việt Nam: Thiết bị vệ sinh – “điểm nút” trong chiến lược xanh hóa nhà ở xã hội

Trong bối cảnh phát triển nhà ở xã hội (NOXH) đang chuyển từ mục tiêu “đủ về lượng” sang “tốt về chất”, bài toán cân bằng giữa chi phí đầu tư, hiệu quả vận hành và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết. Không còn là hạng mục phụ trợ, thiết bị vệ sinh đang nổi lên như một “điểm nút” quan trọng, tác động trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài nguyên, chi phí vòng đời công trình và chất lượng sống của cư dân. Xoay quanh vấn đề này, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (Viện Kiến trúc Quốc gia – Bộ Xây dựng) đã có cuộc trao đổi với ông Ngô Duy Hòa – Giám đốc Công ty Cổ phần Brasler Việt Nam, nhằm làm rõ vai trò của thiết bị vệ sinh trong tiến trình “xanh hóa” nhà ở xã hội từ góc nhìn doanh nghiệp sản xuất.

Giải pháp cửa chống cháy bảo đảm an toàn cho nhà ở xã hội theo tiêu chuẩn hiện đại

Trong bối cảnh chương trình phát triển 1 triệu căn nhà ở xã hội đang được thúc đẩy mạnh mẽ, bài toán an toàn phòng cháy, chữa cháy (PCCC) không còn là yêu cầu kỹ thuật đơn thuần mà đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng và tính bền vững của công trình. Đặc biệt, hệ thống cửa chống cháy tại căn hộ – vị trí tưởng chừng nhỏ nhưng lại giữ vai trò “chốt chặn” quan trọng – đang cần được nhìn nhận đúng mức.

“Xanh” hóa nhà ở xã hội từ thiết bị vệ sinh: Giải pháp nhỏ cho bài toán lớn của đô thị bền vững

Trong tiến trình phát triển đô thị bền vững, nhà ở xã hội không chỉ giải quyết nhu cầu an cư mà còn góp phần định hình cấu trúc đô thị hiện đại, nhân văn. Tuy nhiên, áp lực chi phí đầu tư khiến nhiều dự án cắt giảm hạng mục kỹ thuật, đặc biệt là thiết bị vệ sinh, dẫn đến xuống cấp, rò rỉ và gia tăng chi phí vận hành. Trong bối cảnh đó, “xanh hóa” từ những yếu tố nhỏ như thiết bị vệ sinh trở thành hướng đi thiết thực. Các giải pháp như vòi tạo bọt, xả hai chế độ hay vật liệu bền, an toàn giúp tiết kiệm nước, kéo dài tuổi thọ công trình và giảm áp lực lên hạ tầng đô thị.

Hướng đi nào cho ngành gỗ nội thất Việt Nam?

Duy trì vị trí top 2 thế giới về xuất khẩu gỗ với kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm, ngành gỗ Việt Nam đang cho thấy một nhịp tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, đằng sau những con số ấy là câu hỏi về tính bền vững và hướng đi dài hạn: tăng trưởng đến đâu và đi theo con đường nào trong chuỗi giá trị toàn cầu?

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh