Phê duyệt Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Quảng Ngãi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Phê duyệt Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Quảng Ngãi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

(Vietnamarchi) - Mới đây, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang đã ký quyết định phê duyệt chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Quảng Ngãi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
17:39, 26/03/2025
Quy hoạch cảng biển Quảng Ngãi xác định mục tiêu đến năm 2030, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt từ 47,2 đến 48,2 triệu tấn/năm.

Hướng tới tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,5-5,5%/năm

Theo đó, cảng biển Quảng Ngãi được quy hoạch gồm khu bến Dung Quất, bến cảng Sa Kỳ, bến cảng Mỹ Á, bến cảng Bến Đình (đảo Lý Sơn) và các bến cảng tiềm năng khác theo quy hoạch khu kinh tế Dung Quất phục vụ giao lưu giữa đất liền với đảo Lý Sơn và phát triển kinh tế - xã hội địa phương; các khu neo đậu, khu chuyển tải, tránh bão. Bộ Xây dựng quy hoạch tổng nhu cầu sử dụng đất đến năm 2030 khoảng 217ha (chưa bao gồm các khu vực phát triển các khu công nghiệp, logistics,... gắn liền với cảng). Tầm nhìn đến năm 2050, Bộ tiếp tục phát triển các bến cảng mới đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,5-5,5%/năm.

Về nhu cầu vốn đầu tư hệ thống cảng biển đến năm 2030 khoảng 10.830 tỷ đồng gồm vốn đầu tư cho hạ tầng hàng hải công cộng khoảng 2.870 tỷ đồng và nhu cầu vốn đầu tư cho bến cảng khoảng 7.960 tỷ đồng (chỉ bao gồm các bến cảng kinh doanh dịch vụ xếp dỡ hàng hóa). Bộ Xây dựng ưu tiên kết cấu hạ tầng hàng hải công cộng: các kết cấu hạ tầng phục vụ công tác bảo đảm an toàn hàng hải như khu neo đậu tránh, trú bão, đài thông tin duyên hải. Đầu tư xây dựng bến công vụ, cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành. Đối với bến cảng, ưu tiên đầu tư các bến cảng tại khu bến Dung Quất.

Mục tiêu đến năm 2030, Cảng biển Quảng Ngãi đón từ 47,2 - 48,2 triệu tấn hàng hóa (chưa bao gồm hàng của các dự án mở rộng/xây mới Khu liên hợp sản xuất gang thép); 1,13 - 1,26 triệu hành khách thông qua. Về kết cấu hạ tầng có tổng số 11 bến cảng gồm 41 cầu cảng với tổng chiều dài 8.251,5 m (chưa bao gồm các bến cảng khác).

Cụ thể, khu bến Cảng Dung Quất, hàng hóa thông qua tại cầu cảng từ 38-38,8 triệu tấn (chưa bao gồm hàng của các dự án mở rộng/xây mới Khu liên hợp sản xuất gang thép), với quy mô 9 bến cảng (gồm 38 cầu cảng), tổng chiều dài 7.861m (chưa bao gồm các bến cảng khác). Bến Cảng Sa Kỳ có sản lượng từ 0,4-0,5 triệu tấn hàng hóa; hành khách từ 554.800-613.300 lượt khách; quy mô gồm một bến cảng với 2 cầu cảng. Bến cảng Bến Đình (đảo Lý Sơn) sẽ tiếp nhận 0,2-0,3 triệu tấn hàng hóa; 577.400-648.600 lượt khách.

Bến cảng khác gồm: bến cảng Nhà máy đóng tàu Dung Quất (gồm: cầu cảng trang trí số 1 dài 420 m tiếp nhận tàu trọng tải đến 300.000 tấn không tải hoặc lớn hơn khi đủ điều kiện; 02 cầu cảng nhập nguyên vật liệu tổng chiều dài 292 m cho tàu trọng tải đến 10.000 tấn); bến du thuyền phục vụ du lịch; bến cảng phục vụ các cơ quan quản lý nhà nước, bến nghiên cứu, huấn luyện, đào tạo, cung cấp dịch vụ hàng hải; các bến cảng, cầu cảng gắn liền với các khu bến chính đảm nhận vai trò hỗ trợ thu gom, giải tỏa hàng hóa bằng đường thủy. Các khu chức năng quy hoạch khác như vùng đón trả hoa tiêu, kiểm dịch tại Dung Quất, Sa Kỳ, đảo Lý Sơn.

Các giải pháp thực hiện quy hoạch

Để thực hiện các giải pháp quy hoạch theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 1579/QĐ-TTg ngày 22/9/2021 và số 140/QĐ-TTg ngày 16/01/2025, trong đó đối với cảng biển Quảng Ngãi, Bộ Xây dựng tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Về chính sách: Có cơ chế thu hút đầu tư xây dựng bến cảng, đặc biệt là các bến cảng phục vụ chung tại các khu kinh tế, công nghiệp, cụm công nghiệp để nâng cao hiệu quả đầu tư bến cảng, quỹ đất, mặt nước. Hỗ trợ các doanh nghiệp cảng thực hiện trong quá trình đầu tư, xây dựng; đặc biệt là tiến độ trong công tác giải phóng mặt bằng; Tận dụng tối đa năng lực cơ sở hạ tầng các bến cảng bốc dỡ đa dạng các chủng loại hàng hóa, ưu tiên bốc dỡ mặt hàng container, tổng hợp phục vụ nhu cầu Khu kinh tế Dung Quất. Đầu tư phát triển các khu bến đồng bộ với cơ sở hạ tầng giao thông kết nối sau cảng; xây dựng cơ chế thu hút hãng tàu, đại lý hàng hải phát triển tại khu cảng;

Bên cạnh đó, tạo điều kiện bố trí cơ sở làm việc của các cơ quan quản lý nhà nước, nghiên cứu, huấn luyện, đào tạo, cung cấp dịch vụ hàng hải tại các bến cảng mới; tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong quá trình thực hiện quy hoạch, đảm bảo sự phối hợp, gắn kết đồng bộ với quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông khu vực, quy hoạch xây dựng và quy hoạch chung phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có cảng biển.

Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các chính sách về giá, phí tại cảng biển để nâng cao hiệu quả đầu tư cảng biển, tăng tính hấp dẫn đối với các hãng tàu.

Về huy động vốn đầu tư: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế và các điều kiện để huy động đa dạng các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển theo quy hoạch và thể chế hóa các giải pháp về phân cấp, phân quyền huy động nguồn lực; khai thác nguồn lực từ quỹ đất, mặt nước, nguồn thu từ cho thuê khai thác kết cấu hạ tầng bến cảng đầu tư từ nguồn ngân sách; Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển, khai thác cảng biển; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển. Tăng cường vai trò của doanh nghiệp trong việc chia sẻ trách nhiệm đầu tư, bảo trì kết cấu hạ tầng công cộng tại cảng biển như một phần trong dự án đầu tư khai thác cảng biển của doanh nghiệp.

Về môi trường, khoa học và công nghệ: Khuyến khích Nhà đầu tư khai thác cảng ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật hiện đại, công nghệ số và chuyển đổi số trong xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống cảng biển; đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện, trang thiết bị sử dụng điện, năng lượng xanh hoặc có các biện pháp tương đương tại các cảng đầu tư mới, đầu tư bổ sung và cảng hiện hữu đáp ứng các tiêu chí cảng xanh; Xây dựng các cơ chế ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp cảng xanh, đồng thời đưa tiêu chí cảng xanh là một trong các tiêu chí để cấp có thẩm quyền xem xét lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án cảng biển; Ưu tiên đầu tư, phát triển, sử dụng hiệu quả hệ thống công nghệ thông tin cơ chế một cửa quốc gia.

Về phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong công tác quản lý, khai thác hạ tầng cảng biển; nghiên cứu thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở các lĩnh vực liên quan đến quản lý và khai thác cảng.

Về hợp tác quốc tế: Tăng cường xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước thông qua các chính sách ưu đãi, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh; Thực hiện các điều ước, thỏa thuận khu vực và quốc tế về biển mà Việt Nam là thành viên; nghiên cứu tham gia các điều ước quốc tế liên quan; Tăng cường hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các đối tác, các tổ chức quốc tế nhằm phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Về tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch: Tăng cường công tác phối hợp, kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện quy hoạch bảo đảm các cảng biển được đầu tư, khai thác theo đúng công năng, quy mô, lộ trình quy hoạch được duyệt; bảo đảm đồng bộ giữa cảng biển và các hạ tầng liên quan. Định kỳ tổ chức hội nghị cảng biển để giải quyết các vấn đề liên quan; Các bến cảng hiện hữu được phép cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới phù hợp với quy mô, công năng, cỡ tàu đã được quy định trong Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;

Cỡ tàu theo quy hoạch (tấn trọng tải) để làm cơ sở đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cảng biển, không là cơ sở để không cho phép tàu có trọng tải lớn hơn hành hải trên luồng và ra, vào cảng. Các tàu có trọng tải lớn hơn nhưng có thông số kỹ thuật khác phù hợp với khả năng tiếp nhận của cầu cảng, phù hợp chuẩn tắc kỹ thuật của luồng tàu (bề rộng, chiều sâu, tĩnh không...), đảm bảo điều kiện an toàn có thể được xem xét cho phép vào cảng theo quy định của pháp luật; Tăng cường kết nối hệ thống cảng cạn, trung tâm phân phối hàng hóa, dịch vụ hậu cần sau cảng và dịch vụ logistics để hỗ trợ cho hoạt động cảng biển. Liên kết giữa các doanh nghiệp cảng biển, hãng tàu và công ty logistics trên địa bàn với các nhà khai thác cảng cạn, kho bãi, nhà cung cấp dịch vụ vận tải tạo thành chuỗi dịch vụ, hướng đến hình thành “hệ sinh thái logistics” hỗ trợ chủ hàng từ vận chuyển, lưu trữ đến phân phối sản phẩm; Xây dựng kho dữ liệu tập trung, xây dựng nền tảng công nghệ thông tin khai thác dữ liệu dùng chung phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và khai thác cảng; Thiết lập bản đồ số hóa hệ thống cảng biển phục vụ công tác thống kê, tra cứu, quy hoạch và tối ưu hóa tiến trình phát triển cảng biển Quảng Ngãi.

Quy hoạch không gian ngầm - vấn đề tất yếu của đô thị đặc biệt

Trước áp lực đô thị hóa, quy hoạch không gian ngầm trở thành yêu cầu tất yếu của các đô thị đặc biệt như Hà Nội và TP.HCM, nội dung này cũng được bổ sung trong dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Hà Nội dự kiến đầu tư hơn 30.000 tỷ đồng cải tạo, phát huy giá trị hồ Tây

Với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 30.151 tỷ đồng, Hà Nội đang dự kiến triển khai Dự án đầu tư, cải tạo và phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ theo phương thức đối tác công tư (PPP), nhằm hình thành không gian văn hóa – du lịch – kinh tế sáng tạo quy mô lớn của Thủ đô.

Hệ sinh thái công nghệ số (AI - Bim - Gis - Digital twin) - động lực và công cụ để đổi mới toàn diện công tác quy hoạch, kiến trúc và quản trị đô thị tại Việt Nam

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, Ngành Xây dựng với lĩnh vực Quy hoạch, Kiến trúc tại Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách về chuyển đổi số để giải quyết các thách thức về đô thị hóa và biến đổi khí hậu. Bài báo này nghiên cứu sự tích hợp đa chiều giữa mô hình thông tin công trình (BIM), trí tuệ nhân tạo (AI) cùng các công nghệ bổ trợ như GIS và Digital Twin, thông qua việc phân tích chuỗi quy trình từ quy hoạch vùng, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị đến thiết kế kiến trúc xanh (Biophilic Design), bảo tồn di sản bằng Scan-to-BIM, cho đến vận hành đô thị theo hướng thông minh… Nghiên cứu chỉ ra rằng, sự cộng hưởng công nghệ sẽ giúp tối ưu hóa hiệu suất năng lượng, bảo tồn và gìn giữ hệ sinh thái và môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và nâng cao năng lực quản trị đô thị. Kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất một lộ trình tích hợp dữ liệu thống nhất, góp phần định hình tương lai bền vững cho quy hoạch, kiến trúc cùng vận hành và quản trị tại các đô thị Việt Nam trong Kỷ nguyên số.

Đẩy nhanh tiến độ thi công cầu Ngọc Hồi, phấn đấu hoàn thành năm 2027 chào mừng APEC

Dự án đầu tư xây dựng cầu Ngọc Hồi và đường hai đầu cầu là một trong những công trình giao thông trọng điểm của Thủ đô Hà Nội, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường kết nối liên vùng giữa Hà Nội và tỉnh Hưng Yên, đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông khu vực phía Đông Nam thành phố. Trước yêu cầu hoàn thành dự án trong năm 2027 để phục vụ công tác chuẩn bị Hội nghị APEC 2027, chủ đầu tư và Liên danh nhà thầu đang tập trung cao độ, chủ động điều chỉnh giải pháp thi công nhằm rút ngắn tiến độ nhưng vẫn bảo đảm chất lượng, an toàn và hiệu quả đầu tư.

Hơn 860.000 dân nội thành Hà Nội dự kiến di dời để tái cấu trúc đô thị

Gắn với điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Thủ đô, Hà Nội đề xuất phương án tái cấu trúc đô thị quy mô lớn, với hơn 860.000 dân nội thành dự kiến được di dời trong giai đoạn 2026–2045.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh