Quy hoạch Hà Nội 100 năm: Một dự án đầy tham vọng
Người Việt - ai cũng có góc nhìn đầy tự hào với Thủ đô Hà Nội của mình. Cái nhìn đầu tiên là một thành phố có lịch sử đã hơn nghìn năm tuổi, gắn liền với những trận chiến vệ quốc trước các quốc gia hùng mạnh. Ngay trong thời kỳ hiện đại, thắng lợi trận Điện Biên Phủ trên không trước không lực hùng mạnh nhất thế giới đã nói lên tất cả.
Tiếp theo, con sông Hồng cùng dãy núi Hoàng Liên Sơn là một cặp long mạch: một dương, một âm từ cao nguyên Tây Tạng dẫn tới Hà Nội như một điểm kết thúc tụ khí cực lớn trên bình diện toàn cầu.
Con sông Hồng hung dữ chảy đến Hà Nội cũng như muốn dừng lại, không muốn chảy đi tiếp, để lại hồ Tây vừa là cảnh đẹp, vừa như là một tâm hồn Việt. Phong thủy gọi hồ Tây là “minh đường” (vừng trán) của Hà Nội, nhà cửa ở Hà Nội cũng giản dị, nhưng là một phong cách riêng, được họa sĩ Bùi Xuân Phái khắc ghi lại như một nét rất riêng của Hà Nội mà không nơi nào khác có được.
Hà Nội không chỉ làm say lòng người Việt, mà làm say cả những người người nước ngoài từ nơi rất xa đến đây. Ông Martin Rama, người Uruguay, Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới của khu vực Nam Á, đến Việt Nam rồi ông say ngây ngất Hà Nội như một bảo tàng kiến trúc thế giới.
Tại đây, kiến trúc “Kẻ Chợ” với 36 phố phường, kiến trúc Nam Trung Hoa xen lẫn và vượt ra ngoài vùng “Kẻ Chợ”, kiến trúc Pháp tại khu vực Hà Nội cũ, rồi kiến trúc Xô Viết tại những khu dân cư nhà tập thể... Ông đã chụp ảnh Hà Nội dưới lăng kính “bảo tàng kiến trúc” và xuất bản trong cuốn sách “Hà Nội, một chốn rong chơi”. Tên cuốn sách đã nói lên triết lý sống của người Hà Nội “khi cần thì đánh giặc cũng giỏi, mà khi thư thả thì rong chơi cũng hết tầm".
Nói về nét riêng của Hà Nội thì vài chục cuốn sách cũng không đủ. Tôi chỉ muốn khắc ghi lại chút ít để bàn về quy hoạch phát triển Hà Nội sao cho đúng, nhân tiện Hà Nội đang chuẩn bị bản quy hoạch với tầm nhìn trăm năm.
Trên thực tế, Hà Nội đã có rất nhiều quy hoạch, nhưng thực hiện chưa được là bao. Lý do chính là không tìm ra tiền để thực hiện, trong khung cảnh như vậy thì dễ thực hiện cái “ngon ăn” mà bỏ lại cái “cốt yếu” nhưng khó làm. Hơn nữa, quy hoạch phát triển mà không giữ lại được “hồn cốt” của Hà Nội mà “bắt chước” phong cách Âu - Mỹ thì chỉ tốn tiền mà làm mất đi một Hà Nội với những “ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó”.
Điểm mạnh của dự thảo quy hoạch với tầm nhìn trăm năm
Thứ nhất, dự thảo quy hoạch chứa đựng một “tham vọng lớn”, một số ý tưởng đúng đắn, một số ý tưởng cần nghiên cứu chi tiết hơn và một số ý tưởng cần thay đổi. Dự thảo đã dám nâng khung thời gian lên 2100, chuyển từ tầm nhìn 2065 sang “100 năm và xa hơn”, kèm các mốc kịch bản 2030 – 2035 – 2045 – 2050 – 2065 – 2085 - 2100. Đây là một lợi thế cần giữ vì quy hoạch đô thị lớn mà không nhìn dài thì rất dễ mắc phải “chắp vá theo nhiệm kỳ”. Người Việt ta đã có câu “tân quan, tân chính sách” là vì vậy. Tâm lý quản lý như vậy cần được quán triệt trong thực thi.

Thứ hai, dự thảo đã đặt “hạnh phúc - chất lượng sống” làm trung tâm, có chỉ tiêu xã hội định lượng bằng “Chỉ số phát triển con người” (HDI) đạt 0,92; hạnh phúc 9,5/10; tuổi thọ 80… Tất nhiên, điều cần làm thêm là làm thế nào để đạt được HDI đã đặt ra.
Thứ ba, chủ đề “Văn hóa - Bản sắc - Sáng tạo” được khẳng định là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và nhấn mạnh phải giữ “hồn cốt Thăng Long”. Đây là quan điểm phát triển rất đúng với hoàn cảnh Hà Nội vì “vốn văn hóa còn tồn đọng trên từng mét vuông đất”. Ở đây, ranh giới giữa “bản sắc” và “sáng tạo” cần được xác định cụ thể với ngữ nghĩa “văn hóa” là nền tảng là điều cần đặt ra rất cụ thể.
Thứ tư, dự thảo đưa ra ý tưởng cấu trúc đô thị “đa tầng - đa lớp” với phân lớp không gian ngầm (0 - 10m, 10 - 30m, và lơn hơn 30m), không gian trên cao tầm thấp (nhỏ hơn 1.000m), tầm cao (lớn hơn 1.000m) và lớp “Di sản - Văn hóa, Sinh thái, Kinh tế và số hóa”.
Đây là một khung tư duy hiện đại về phát triển, hướng tới thay thế không gian hiện vật bằng không gian số để quản lý chặt chẽ, tự động hóa dễ dàng, kiến nghị xử lý khách quan, tức là ngăn chặn được rủi ro tham nhũng. Tất nhiên, để làm được thì cần phải chuẩn bị trước về quy chuẩn kỹ thuật và khung pháp lý, nhằm xây dựng được một quy trình triển khai không bị “vặn xoắn”.
Thứ năm, dự thảo đã định hình hệ đa trung tâm, đa cực với “9 cực tăng trưởng”, cụ thể như các cực Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn, Gia Lâm - Long Biên, Hòa Lạc… Đây là ý tưởng rất đúng tư duy giảm tải lõi đô thị. Thế nhưng, một để làm được một khu đô thị có sức sống thì điều đầu tiên cần tính đến là khu đô thị hướng tới đó có thể tạo ra bao nhiêu việc làm. Một khu đô thị ít khả năng tạo ra việc làm sẽ trở thành một “đô thị ma”.
“Nút chết” lớn nhất: Tái thiết – giãn dân – chia sẻ địa tô
Nói rõ ràng hơn là “ai được hưởng lợi từ đất dôi dư?” sau khi tái cấu trúc dân cư mà cụ thể là ai phải di dời để giảm tải nội đô, ai được tái định cư tại nơi cũ. Nếu chỉ làm mang tính “cưỡng bức cho đủ con số” thì không đủ cơ sở thực tế và pháp lý. Dự thảo đặt nặng tái thiết đô thị và tái cấu trúc dân cư là chưa đầy đủ và chắc chắn.
Trên thực tế, chúng ta cần rất nhiều giải pháp để thực hiện tái thiết đô thị và tái cấu trúc dân cư. Trước hết, hiện nay Hà Nội vẫn đang có quy định đưa các cơ sở công nghiệp, các trường đại học, các đơn vị sự nghiệp đông người ra khỏi nội đô. Chủ trương này đã được quyết định từ lâu rồi nhưng thực hiện vẫn còn rất hạn chế. Với quy hoạch mới, Hà Nội cần thật cương quyết thực hiện vì đây là cách giãn dân hợp lý nhất để giảm tải nội đô và tạo sức sống cho các khu đô thị mới như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc…
Đồng thời, dự thảo chủ trương “giảm mật độ, tăng tầng cao”, tạo “quỹ đất dôi dư” cho công viên, hạ tầng. Nhưng ngay sau đó lại có câu cực nhạy cảm “Quỹ đất trung tâm sau khi tái thiết được ưu tiên… thương mại, dịch vụ… tạo khu vực CBD (Central Business District - Quận kinh doanh trung tâm)… nhằm tạo nguồn thu”.
Vậy câu hỏi chính trị – xã hội không thể né tránh: “Ai được hưởng phần địa tô chênh lệch tạo ra bởi tăng tầng cao, chuyển đổi công năng trung tâm, ga nút giao thông ngầm (TOD)? Người dân bị giải tỏa di dời có nhận được phần chia sẻ nào từ địa tô đó không, hay chỉ nhận bồi thường theo “giá thấp hơn giá thị trường”. Nếu lợi ích địa tô rơi chủ yếu vào một nhóm nhà đầu tư, dự thảo sẽ gặp đúng “điểm gãy” về phân phối giá trị đất đai gia tăng, tạo ra thất thoát lòng dân, rủi ro bất ổn xã hội, khiếu kiện và “quy hoạch đẹp trên giấy”.
Dự thảo còn nhắc tới “cơ chế chính sách mới mạnh mẽ (như các dự án BT lớn…)” cho tái thiết chung cư cũ. BT vốn là dạng “đổi đất lấy hạ tầng”, nếu thiếu chuẩn mực minh bạch về định giá, đấu thầu cạnh tranh, thì xung đột lợi ích gắn với thất thoát địa tô gần như là “rủi ro mặc định”.
Như vậy, dự thảo quy hoạch cần phải viết thẳng một “cơ chế phân phối địa tô” trong Chương cơ chế, chính sách, tối thiểu gồm 4 cấu phần:
(1) Công thức chia sẻ giá trị đất đai tăng thêm, phần nào cho ngân sách, phần nào tái đầu tư hạ tầng và phần nào “trả lại” cộng đồng cư dân gốc;
(2) Cơ chế tại chỗ cần coi là ưu tiên số 1, không coi “ra đô thị mới đồng bộ hiện đại” là mặc định tốt hơn;
(3) Minh bạch hóa quy hoạch tăng tầng và chuyển đổi công năng (ai được tăng? đổi gì? đóng góp gì?);
(4) Thiết kế gói an sinh đô thị như nhà thuê giá hợp lý, sinh kế, trường học, y tế cho nhóm yếu thế cần đặt ra, nếu không thì mục tiêu “chỉ số hạnh phúc 9,5/10” sẽ chỉ là khẩu hiệu.
Dự thảo quy hoạch có hướng nghiêng hẳn về sử dụng cơ chế hành chính để giải quyết vấn đề chia sẻ lợi ích từ giá trị đất đai gia tăng. Điều này chỉ đúng đối với các cơ sở, tổ chức đông người, gây ô nhiễm buộc phải di dời khỏi nội đô, không đúng với các trường hợp khác.
Một giải pháp đã được Ngân hàng Thế giới, UNDP, UN-Habitat cổ súy là “Góp quyền sử dụng đất, tái điều chỉnh đất đai” (Land Pooling/Readjustment), cũng đã được Nghị quyết 18-NQ/TW 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về “tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao” đặt ra như một giải pháp đô thị hóa và cũng được quy định trong Luật Đất đai 2024.
Cơ chế này đại ý rằng: cần xây dựng một đề án nâng cấp đô thị dựa vào lượng đất cần thiết là bao nhiêu để phát triển hạ tầng và cần thêm bao nhiêu đất để đổi thành tiền nhằm thực hiện đề án, từ đó đưa đề án ra lấy ý kiến cư dân về sự đóng góp của cư dân bằng đất hoặc bằng tiền, khi đạt được tối thiểu 2/3 ý kiến đồng thuận của cư dân thì trình chính quyền phê duyệt để thực hiện. Phương thức này đã được thực hiện ở rất nhiều quốc gia, đã được quy định trong pháp luật Việt Nam, nhưng chưa được đề cập trong dự thảo quy hoạch mới của Hà Nội.
Ngân hàng Thế giới đã có một cuốn sách đào tạo thực hiện cơ chế “Góp đất, tái điều chỉnh đất đai” dựa trên kinh nghiệm triển khai ở các quốc gia khác nhau. Việt Nam cần tập trung nỗ lực vào thực hiện cơ chế này, từng bước thay dần cơ chế “nhà nước thu hồi đất bắt buộc vì mục đích phát triển kinh tế của khu vực ngoài nhà nước.
Như vậy, dự thảo quy hoạch cần khoanh rõ phạm vi thực hiện “cưỡng bức di dời” và phạm vi thực hiện cơ chế “góp quyền sử dụng đất, tái điều chỉnh đất đai” để tái thiết đô thị.
Chúng ta cần lưu ý rằng cơ chế “góp quyền sử dụng đất, tái điều chỉnh đất đai” có nét giống với cơ chế “nhà nước và nhân dân cùng làm”, có sức sống cực lớn. Trong thực hiện mỗi cơ chế nói trên, phải làm rõ phương thức phân phối giá trị đất đai tăng thêm do đô thị đã tái thiết như thế nào và mang lại lợi ích cho những ai.
Hà Nội là bảo tàng kiến trúc
Dự thảo quy hoạch nói đúng hướng, nhưng câu chữ vẫn tỏ ra đáng lo ngại. Dự thảo viết rất hay “hài hòa hiện đại - truyền thống; “triết lý văn hóa - bản sắc - sáng tạo”; và nêu rõ tái thiết phải chạm tới các khu vực nhạy cảm như phố cổ, phố Pháp, hồ Gươm… Dự thảo còn nêu tách lớp Hoàng thành Thăng Long, phố cổ, phố cũ, 36 phố phường để bảo tồn. Ở đoạn liệt kê rõ vành đai 1 - 2 - 2.5 là “nội đô lịch sử”, trọng tâm bảo tồn phố cổ, phố cũ, hồ Tây, thành Cổ Loa"… đồng thời “khôi phục cấu trúc phố Pháp”.
Nhưng ngay trong cụm “tái cấu trúc, tái thiết cơ bản, toàn diện” đối với những vùng di sản cần làm rõ hơn. Chữ “tái thiết toàn diện” là từ rất nguy hiểm, vì nó có thể bị diễn giải thành đập đi làm lại, và nó cũng dễ bị “trượt” sang “hiện đại hóa đồng phục”, làm Hà Nội thành một phiên bản “thành phố toàn cầu” na ná như rất nhiều thành phố khác trên thế giới.
Như vậy, ở khu phố cổ, phố Pháp, hồ Gươm và phụ cận… nên thay “tái thiết toàn diện” bằng bộ khái niệm rõ hơn như “Bảo tồn thích ứng” hay “Chỉnh trang - gia cố - cải thiện hạ tầng” hay “Tái thiết có chọn lọc” với tiêu chí “không làm đứt gãy cấu trúc đô thị gắn với ký ức địa điểm”.
Hơn nữa, cần kèm một “Bộ quy tắc di sản đô thị” (độ cao, mặt đứng, vật liệu, nhịp phố, không gian công cộng, biển hiệu…) chứ không chỉ nói như một triết lý. Dự thảo quy hoạch cũng cần “lập bản đồ di sản theo lớp thời gian”, rồi đưa vào quy hoạch như một lớp dữ liệu bắt buộc.
“Đào bể ngầm khổng lồ” và ngầm hóa hơn 40% nội đô
Đây là một ý tưởng khá táo bạo, cần phải cảnh báo rủi ro thực thi. Dự thảo đề xuất giải pháp xây dựng “Bể ngầm khổng lồ” để chứa nước mưa kết hợp chống ngập úng, đồng thời tạo tỷ lệ ngầm hóa nội đô trên 40% diện tích đất xây dựng đô thị. Đây là kinh nghiệm của Nhật Bản. Thế nhưng, chúng ta phải thấy là Nhật Bản nằm trên tầng đá gốc, còn Hà Nội nằm trên nền trầm tích đệ tứ. Như vậy, chúng ta cần dưa ra 5 cảnh báo.
Thứ nhất, địa chất - thủy văn - mực nước ngầm ở Hà Nội cực phức tạp, làm “bể ngầm khổng lồ” mà không đánh giá rủi ro thấm, lún, tác động đến nền móng thì tạo ra nguy cơ lớn. Các giải pháp của Nhật Bản đặt trong hoàn cảnh địa chất hoàn toàn khác với Việt Nam;
Thứ hai, chi phí đầu tư, vận hành: bể ngầm, đường hầm kỹ thuật, bơm, xử lý nước, bảo trì… là “chi phí quá lớn và lâu dài”, nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới của Nhật chịu đựng nổi và có lãi, nhưng kinh tế Việt Nam còn chưa lớn, vậy liệu có khả thi không?;
Thứ ba, xung đột không gian ngầm sẽ trở nên căng thẳng, cạnh tranh nhau dữ dội giữa không gian ngầm hiện tại không có bản đồ cụ thể và không gian ngầm theo quy hoạch. Sử dụng không gian ngầm là điều tất yếu trong phát triển đô thị 3D, nhưng để làm gì là câu hỏi lớn được đặt ra. Để làm một quy hoạch khả thi, nghiên cứu điều tra cơ bản phải đi trước rất chi tiết và có trách nhiệm; nếu không quy hoạch sẽ bị “treo”;
Thứ tư, rủi ro “định hướng công nghệ” lấn át giải pháp tự nhiên là điều không được. Đến nay, khẩu hiệu “thuận thiên” đã trở thành chủ trương chính trong phát triển. Thời kỳ “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” đã qua lâu rồi. “Thuận thiên” sẽ làm giảm chi phí đầu tư và tăng hiệu quả phát triển;
Thứ năm, lộ trình thực hiện chưa được làm rõ trong quy hoạch, có thể tạo ra các rủi ro nảy sinh giữa các giai đoạn. Điều quan trọng nhất là kinh phí lấy từ đâu để thực hiện quy hoạch nhiều tham vọng này. Câu trả lời “lấy từ giá trị đất đai” đương nhiên là đúng, nhưng thực tế đang cần câu trả lời cho câu hỏi “lấy như thế nào?” lại chưa có. Trong cuốn sách “Sự bí ẩn của vốn”, GS. Hernando De Soto đã chỉ ra: các nước công nghiệp thành công là làm được việc tạo vốn từ đất, tức là tạo được cách vốn hóa đất đai hiệu quả. Dự thảo quy hoạch đang nói tới chưa đề cập tới câu chuyện này.
Kết luận
Tất cả chúng ta ai cũng biết rằng nếu Hà Nội được tái thiết bằng những ngôi nhà chọc trời giống như nhiều thành phố hiện đại trên thế giới thì các tầng dầy văn hóa sẽ không còn nữa, được coi như phần hồn của Hà Nội đã mất. Một bản quy hoạch tái thiết Hà Nội hợp lý là rất cần thiết, định hướng càng dài càng tốt, càng hợp lòng dân càng tốt.
Kinh phí để tái thiết từ đâu là câu hỏi lớn, câu trả lời từ “vốn hóa đất đai” luôn luôn đúng. Nhưng vốn hóa đất đai lại có hệ quả là sự phân phối lại giá trị gia tăng từ đất. Nếu chia sẻ giá trị đất đai gia tăng không công bằng thì hiệu quả sẽ rất thấp. Lúc này, trong giai đoạn chuyển đổi số, chúng ta cần thay tư duy quản lý đất đai vật thể bằng tư duy quản lý đất đai trên “không gian số” thông qua quy trình “Token hóa vật thể thửa đất”. Từ đó, hoàn thiện quy hoạch, thực thi quy hoạch, đánh giá hiệu quả quy hoạch đều được mạng “Internet vạn vật” (IoT) thu nhận từ thực tế và chuyển về “trí tuệ nhân tạo” (AI) để đánh giá đánh giá và khuyến nghị. Đây là một khuyến nghị cho một bản quy hoạch Hà Nội có tầm nhìn trăm năm và quá trình thực thi.










Ý kiến của bạn