Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

(Vietnamarchi) - Vừa qua, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 1051/ QĐ-BXD ngày 09/07/2025 về việc Phê duyệt Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
14:35, 11/07/2025
Bộ Xây dựng phê duyệt Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu đến 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Theo đó, cảng biển Nghệ An gồm các khu bến: Nam Cửa Lò; Bắc Cửa Lò; Đông Hồi; Bến Thủy, Cửa Hội; các bến phao, khu chuyển tải và các khu neo chờ, tránh, trú bão.

Mục tiêu đến năm 2030, về hàng hóa và hành khách thông qua, hàng hóa từ 22,25 triệu tấn đến 26,75 triệu tấn (trong đó hàng container từ 0,18 triệu Teu đến 0,24 triệu Teu); hành khách từ 17,6 nghìn lượt khách đến 21,7 nghìn lượt khách.

Về kết cấu hạ tầng có tổng số 09 bến cảng gồm từ 28 đến 31 cầu cảng với tổng chiều dài từ 5.151m đến 5.926m (chưa bao gồm các bến cảng, cầu cảng khác).

Xác định phạm vi vùng đất, vùng nước phù hợp với quy mô bến cảng và đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa.

Tầm nhìn đến năm 2050, về hàng hóa thông qua, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,6%/năm đến 4,5%/năm; Về kết cấu hạ tầng, tiếp tục phát triển các bến cảng biển đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa, hành khách.

Nội dung quy hoạch bao gồm phạm vi, chức năng, cỡ tàu tại các khu bến tuân thủ theo Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2021 và Quyết định số 442/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ.

Quy hoạch các khu bến cảng đến năm 2030, cụ thể tại khu bến Nam Cửa Lò, về hàng hóa và hành khách thông qua: hàng hóa từ 5,0 triệu tấn đến 5,5 triệu tấn; hành khách từ 17,6 nghìn lượt khách đến 21,7 nghìn lượt khách.

Quy mô các bến cảng có 01 bến cảng gồm từ 05 cầu cảng đến 06 cầu cảng với tổng chiều dài 881m đến 1.106m (chưa bao gồm các bến cảng khác), cụ thể như sau:

Tại bến cảng Cửa Lò có từ 05 đến 06 cầu cảng tổng hợp, container với tổng chiều dài từ 881m đến 1.106m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 30.000 tấn hoặc lớn hơn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa từ 5,0 triệu tấn đến 5,5 triệu tấn và hành khách từ 17,6 nghìn lượt khách đến 21,7 nghìn lượt khách.

Đối với khu bến Bắc Cửa Lò, về hàng hóa thông qua từ 12,0 triệu tấn đến 15,5 triệu tấn; Quy mô các bến cảng có tổng số 03 bến cảng gồm từ 14 cầu cảng đến 15 cầu cảng với tổng chiều dài 3.014m đến 3.314m, cụ thể như sau: Bến cảng xăng dầu DKC có 02 cầu cảng hàng lỏng với tổng chiều dài 470m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 50.000 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa từ 0,75 triệu tấn đến 1,0 triệu tấn.

Bến cảng chuyên dùng Vissai có 09 cầu cảng tổng hợp, container, hàng rời, lỏng/khí với tổng chiều dài 1.744m, tiếp nhận cỡ tàu từ 30.000 tấn đến 100.000 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa từ 7,25 triệu tấn đến 8,0 triệu tấn.

Bến cảng Bắc Cửa Lò có từ 03 cầu cảng đến 04 cầu cảng tổng hợp, container, hàng rời với tổng chiều dài từ 800m đến 1.100m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 50.000 tấn hoặc lớn hơn khi đủ điều kiện, tàu hàng rời trọng tải đến 100.000 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa từ 4,0 triệu tấn đến 6,5 triệu tấn.

Tại khu bến Đông Hồi, về hàng hóa thông qua từ 3,5 triệu tấn đến 4,0 triệu tấn; Quy mô các bến cảng: có tổng số 03 bến cảng gồm từ 05 cầu cảng đến 06 cầu cảng với tổng chiều dài từ 1.102m đến 1.352m, cụ thể như sau:

Bến cảng chuyên dùng nhà máy điện khí LNG Quỳnh Lập có 01 cầu cảng hàng lỏng/khí (hoặc phía trong đê chắn sóng tùy thuộc vào phương án công nghệ xuất nhập LNG) với chiều dài khoảng 352m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 150.000 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa 1,5 triệu tấn.

Bến cảng Đông Hồi 1 có 02 cầu cảng tổng hợp với tổng chiều dài 500m tiếp nhận tàu trọng tải đến 70.000 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa từ 0,5 triệu tấn đến 1,0 triệu tấn.

Bến cảng Đông Hồi 2 có từ 02 cầu cảng đến 03 cầu cảng tổng hợp với tổng chiều dài từ 500 m đến 750 m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 70.000 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa 1,5 triệu tấn.

Với khu bến Bến Thủy, Cửa Hội, về hàng hóa thông qua có 0,75 triệu tấn; Quy mô các bến cảng có tổng số 02 bến cảng gồm 04 cầu cảng với tổng chiều dài 154m (chưa bao gồm các bến cảng, cầu cảng khác), cụ thể như sau: Bến cảng Bến Thủy: di dời, chuyển đổi công năng sau khi đã đầu tư bến cảng Hưng Hòa;

Bến cảng xăng dầu Hưng Hòa có 01 cầu cảng hàng lỏng với chiều dài 34m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 2.000 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa 0,25 triệu tấn.

Bến cảng Hưng Hòa (di dời bến cảng Bến Thủy) có 03 cầu cảng tổng hợp với tổng chiều dài 120m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 2.500 tấn, đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa 0,2 triệu tấn.

Các bến phao, khu chuyển tải, khu neo, chờ, tránh, trú bão tại Cửa Lò, Đông Hồi, khu vực Cửa Hội (trên sông Lam) và khu vực khác có đủ điều kiện.

Tầm nhìn đến năm 2050, tiếp tục phát triển các bến cảng mới đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,6%/năm đến 4,5%/năm.

Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng hàng hải, duy trì chuẩn tắc thiết kế luồng hàng hải Cửa Hội - Bến Thủy. Tuyến luồng Cửa Lò cho tàu trọng tải đến 30.000 tấn đầy tải, 50.000 tấn giảm tải; luồng Đông Hồi cho tàu trọng tải đến 50.000 tấn đầy tải, 70.000 tấn giảm tải. Lộ trình đầu tư tùy thuộc vào khả năng bố trí, huy động nguồn lực. Trường hợp huy động nguồn xã hội hoá, cho phép đầu tư luồng hàng hải phù hợp với quy mô bến cảng theo quy hoạch.

Định hướng quy hoạch hạ tầng giao thông kết nối, triển khai kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa theo quy hoạch được duyệt.

Bến cảng khác gồm bến cảng phục vụ trực tiếp cho các cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu (nhà máy đóng tàu Nghệ An, nhà máy đóng tàu Trường An) và bến du thuyền phục vụ du lịch; bến cảng phục vụ các cơ quan quản lý nhà nước, nghiên cứu, huấn luyện, đào tạo, cung cấp dịch vụ hàng hải; các bến cảng, cầu cảng gắn liền với các khu bến chính đảm nhận vai trò hỗ trợ thu gom và giải tỏa hàng hóa bằng đường thủy.

Định hướng quy hoạch các khu chức năng khác, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải: theo lộ trình đầu tư phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn các giai đoạn.

Vùng đón trả hoa tiêu, kiểm dịch tại khu vực Cửa Lò, Cửa Hội. Đối với khu vực Đông Hồi: sử dụng chung vùng đón trả hoa tiêu, kiểm dịch của khu bến cảng Nghi Sơn (thuộc vùng nước cảng biển Thanh Hóa).

Các khu vực, địa điểm tiếp nhận chất nạo vét, theo quy hoạch tỉnh Nghệ An, các quy hoạch có liên quan và các khu vực, địa điểm được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An chấp thuận, công bố.

Một số giải pháp thực hiện Quy hoạch

Các giải pháp quy hoạch theo Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2021 và số 140/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2025, trong đó tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Trước hết là giải pháp về cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư đồng thời khu công nghiệp, cụm công nghiệp với hạ tầng cảng biển để nâng cao hiệu quả đầu tư khai thác;

Tạo điều kiện bố trí cơ sở làm việc của các cơ quan quản lý nhà nước, nghiên cứu, huấn luyện, đào tạo, cung cấp dịch vụ hàng hải tại các bến cảng mới; tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong quá trình thực hiện quy hoạch, đảm bảo sự phối hợp, gắn kết đồng bộ với quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông khu vực, quy hoạch xây dựng và quy hoạch chung phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có cảng biển.

Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các chính sách về giá, phí tại cảng biển để nâng cao hiệu quả đầu tư khai thác cảng biển, tăng tính hấp dẫn đối với các hãng tàu.

Bên cạnh đó là giải pháp về huy động vốn đầu tư, tiếp tục hoàn thiện cơ chế và các điều kiện để huy động đa dạng các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển theo quy hoạch và thể chế hóa các giải pháp về phân cấp, phân quyền huy động nguồn lực; khai thác nguồn lực từ quỹ đất, mặt nước, nguồn thu từ cho thuê khai thác kết cấu hạ tầng bến cảng đầu tư từ nguồn ngân sách;

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển, khai thác cảng biển; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển. Tăng cường vai trò của doanh nghiệp trong việc chia sẻ trách nhiệm đầu tư, bảo trì kết cấu hạ tầng công cộng tại cảng biển như một phần trong dự án đầu tư khai thác cảng biển của doanh nghiệp.

Giải pháp về môi trường, khoa học và công nghệ, khuyến khích Nhà đầu tư khai thác cảng ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật hiện đại, công nghệ số và chuyển đổi số trong xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống cảng biển; đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện, trang thiết bị sử dụng điện, năng lượng xanh hoặc có các biện pháp tương đương tại các cảng đầu tư mới, đầu tư bổ sung và cảng hiện hữu đáp ứng các tiêu chí cảng xanh, cảng biển thông minh;

Xây dựng các cơ chế ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp cảng xanh, cảng biển thông minh, đồng thời nghiên cứu đưa tiêu chí cảng xanh là một trong các tiêu chí để cấp có thẩm quyền xem xét lựa chọn nhà đầu tư dự án đầu tư cảng biển; Ưu tiên đầu tư, phát triển, sử dụng hiệu quả hệ thống công nghệ thông tin cơ chế một cửa quốc gia.

Đồng thời là các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực; Giải pháp về hợp tác quốc tế; Giải pháp về tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch…

Về tổ chức thực hiện, cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam chủ trì, phối hợp với Sở, ban, ngành của tỉnh Nghệ An  công bố, kiểm tra, giám sát quy hoạch và thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành hàng hải tại cảng biển Nghệ An theo thẩm quyền; tham mưu cho Bộ Xây dựng hoặc xử lý theo thẩm quyền nội dung có liên quan về dự án xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cầu cảng, bến cảng, giao thông kết nối;

Nghiên cứu, đề xuất Bộ Xây dựng xem xét, quyết định việc cập nhật, bổ sung, điều chỉnh quy mô, chức năng, tiến độ thực hiện các cầu, bến cảng; Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý, khai thác và các giải pháp quản lý, khai thác các bến cảng thuộc cảng biển Nghệ An; Thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan, tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện quy hoạch phát triển cảng biển, đề xuất xử lý các dự án không tuân thủ quy hoạch;

Hướng dẫn, giám sát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cảng biển thực hiện kế hoạch phát triển phù hợp với quy hoạch được duyệt; đáp ứng yêu cầu về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, chỉ đạo việc cập nhật các quy hoạch của địa phương phù hợp quy hoạch chi tiết cảng biển được duyệt; quản lý, bố trí quỹ đất theo quy định của pháp luật về đất đai đảm bảo phát triển đồng bộ cảng và hạ tầng kết nối với cảng, khu dịch vụ hậu cảng, dịch vụ hàng hải đảm bảo điều kiện hoạt động thuận lợi cho các cầu, bến cảng…

Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký ban hành.

Chi tiết Quy hoạch tại: BXD_1051-QD-BXD_09072025.pdf

Khởi công Dự án xây dựng nhà ở cho lực lượng vũ trang CAND tại xã Vĩnh Thanh

Ngày 19/12, Bộ Công an tổ chức lễ khởi công dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang Công an nhân dân (CAND) tại xã Vĩnh Thanh (Hà Nội).

Kiến trúc của sự kiềm chế: Khi lựa chọn không xây dựng trở thành thiết kế

Trong một thế giới đang đối mặt với sự cạn kiệt sinh thái và bão hòa không gian, hoạt động xây dựng đã trở thành biểu tượng của cả sáng tạo lẫn tiêu dùng. Trong nhiều thập kỷ, tiến bộ kiến ​​trúc được đo lường bằng những điều mới mẻ: vật liệu mới, công nghệ mới, những tượng đài mới của tham vọng. Tuy nhiên, ngày nay, ngành kiến ​​trúc ngày càng được định hình bởi một dạng trí tuệ khác, một dạng trí tuệ coi trọng những gì đã có. Các kiến ​​trúc sư đang học được rằng làm ít hơn có thể đồng nghĩa với thiết kế nhiều hơn, và sự thay đổi này đánh dấu sự xuất hiện của cái mà người ta có thể gọi là kiến ​​trúc tiết chế: một thực hành được định nghĩa bằng sự cẩn thận, bảo trì và lựa chọn có chủ đích không xây dựng.

Bài toán kẹt xe ở TPHCM: bắt đầu từ đâu ?

Nhìn ở góc độ đô thị học, giao thông là “hệ tuần hoàn máu” của thành phố. Khi mạch máu tắc, mọi cơ quan khác suy yếu: sản xuất đình trệ, dịch vụ chậm chạp, y tế khẩn cấp bị chậm trễ, chất lượng sống suy giảm. Việc điều trị căn bệnh này không thể tiếp tục theo kiểu chắp vá – mở thêm vài làn đường, nới thêm cây cầu – mà phải xem tổng thể cấu trúc đô thị, hành vi di chuyển và mô hình quản trị giao thông.

Từ kinh nghiệm phát triển đô thị ven sông đến “trục cảnh quan sông Hồng”

Bên ngoài con đê sông Hồng, nơi ít người ngoái nhìn tới, là những xóm nhỏ nơi sinh sống từ những bước chân tha hương của biết bao phận người. Họ đến từ mọi miền, mang theo đôi bàn tay chai sần và ước vọng đổi đời, sống những ngày lam lũ quanh năm chỉ để con cái được học hành tử tế hơn họ. Có người tích cóp cả đời mới dựng được căn nhà tầng đơn sơ; có cả chục con người vẫn ở trong những phòng trọ chưa đầy mười mét vuông. Họ là những người mang cả quê hương lên Hà Nội, làm đủ thứ nghề: thợ hồ, bán hàng rong, chạy xe, làm đủ thứ nghề để chắt chiu từng đồng nuôi con ăn học. Có gia đình dành dụm mấy chục năm mới dựng được căn nhà vững chãi; nhưng cũng có hàng nghìn con người thuê trọ trong những gian phòng ẩm thấp, chỉ đủ kê chiếc giường và cái gác bếp nhỏ - để rồi sáng hôm sau lại hòa vào dòng người mưu sinh. Những xóm thợ, ngõ nhỏ ấy tồn tại trong sức sống đô thị, những con người góp phần không nhỏ cho thành phố. Không ai muốn nhếch nhác, nhưng cũng không đủ điều kiện để thay đổi. Giờ đây, khi thành phố bàn chuyện chỉnh trang, cải tạo hay di dời …thì vấn đề không chỉ nằm ở bản vẽ hay phương án đầu tư, mà nằm ở chỗ: làm thế nào để những con người đã dồn cả đời vào mảnh đất bãi ấy không bị bỏ lại phía sau trong một cuộc thay đổi quá lớn và quá nhanh.

Đô thị trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp - tiếp cận từ pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn tại Việt Nam

Bài viết phân tích khái niệm đô thị trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, dựa trên các quy định của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15. Trên cơ sở so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước, bài viết làm rõ yêu cầu nhận thức mới về đô thị như một không gian tổ chức kinh tế - xã hội và quản lý phát triển trong bối cảnh thể chế thay đổi. Kết quả nghiên cứu góp phần định hướng hoàn thiện khái niệm và công tác quản lý đô thị tại Việt Nam theo hướng bền vững, gắn kết và hài hòa với phát triển nông thôn.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh