Kiến trúc – Kiến tạo điểm nhấn văn hóa cho mỗi địa phương 

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn - Nguyên Viện trưởng Viện kiến trúc, Quy hoạch ĐT&NT; nguyên thứ trưởng Bộ Xây dựng nhấn mạnh, mỗi địa phương cần coi kiến trúc như hạ tầng văn hóa. Chúng ta thường nói đến hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Nhưng một địa phương muốn phát triển lâu dài không chỉ cần đường sá, sân bay, khách sạn và trung tâm thương mại. Địa phương ấy cũng cần những nơi mà người dân tự hào, du khách muốn tìm đến và các thế hệ sau vẫn muốn nhớ về. Một tác phẩm kiến trúc có thể trở thành điểm tựa cho quá trình ấy. Từ một công trình có thể hình thành cả một chuỗi giá trị. Kiến trúc tạo ra không gian; không gian thu hút con người; con người tạo ra hoạt động; hoạt động tạo ra ký ức; ký ức tạo ra văn hóa; văn hóa tạo ra bản sắc; bản sắc tạo ra sức hút du lịch và cuối cùng có thể tạo ra giá trị kinh tế cho địa phương.
Đó cũng là lý do tôi cho rằng mỗi địa phương nên tự đặt cho mình một câu hỏi nếu vài chục năm nữa người dân đi xa quê hương và nhớ về nơi mình đã sống, họ sẽ nhớ về cái gì, về công trình nào? Nếu một người nước ngoài đến đây lần đầu, họ nhìn thấy hình ảnh nào để nhận ra nơi này mà không phải một nơi nào khác? Câu trả lời không phải là một cái gì phải to tát. Nó phải là một tác phẩm kiến trúc có chất lượng, có sắc thái riêng và có khả năng đi vào ký ức, đời sống con người. Chỉ khi làm được điều đó, công trình sẽ vượt khỏi chức năng ban đầu của nó. Nó trở thành một thành phần của văn hóa địa phương.
Đó mới là mục tiêu cao nhất mà kiến trúc có thể đem lại cho cộng đồng, cho một vùng đất, nó không chỉ tạo ra một công trình để sử dụng hôm nay, mà tạo ra một giá trị văn hóa để các thế hệ còn nhớ đến.
Một ngôi đình có thể được tu bổ nguyên vẹn, nhưng nếu sân đình biến thành bãi đỗ xe, ao làng bị san lấp, đường làng bị thay đổi và cộng đồng không còn duy trì những sinh hoạt gắn với công trình ấy, liệu di sản có thực sự được bảo tồn?
Câu hỏi này cho thấy giá trị của di sản kiến trúc không thể chỉ được đo bằng tuổi đời, quy mô hay mức độ đặc sắc của một công trình. Trong nhiều trường hợp, chính mối quan hệ giữa công trình với cảnh quan, sinh kế và đời sống cộng đồng mới tạo nên giá trị đặc biệt của nơi chốn.

Quần thể danh thắng Tràng An, Thánh địa Mỹ Sơn và Đại Nội Huế – những di sản tiêu biểu kết tinh giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa Việt Nam.
Theo PGS.TS Phạm Hùng Cường, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng việc nhận diện di sản kiến trúc và cảnh quan nông nghiệp, nông thôn cần được thực hiện đồng thời ở nhiều cấp độ, từ tổng thể làng đến không gian của từng hộ gia đình. Phạm vi khảo sát không nên dừng ở đình, chùa, đền, miếu hay nhà cổ mà cần xem xét cả cấu trúc điểm dân cư, đường ngõ, mặt nước, vườn cây, khu sản xuất và cảnh quan bên ngoài làng.
Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa đối với vùng Đồng bằng sông Hồng, nơi nhiều làng truyền thống được hình thành qua hàng trăm năm và gắn với nền văn minh lúa nước. Cổng làng, đường ngõ, đình, chùa, giếng, ao, chợ, nhà ở, vườn cây, khu sản xuất và nghĩa trang tạo thành một hệ thống liên kết, phản ánh cách cộng đồng tổ chức cuộc sống.
Cảnh quan nông nghiệp cũng là một phần của hệ thống đó. Bờ vùng, bờ thửa, mương máng, đường ra đồng, ao hồ, cây xanh và mùa vụ không chỉ phục vụ sản xuất mà còn lưu giữ nhiều tri thức về sử dụng đất, nguồn nước và thích ứng với điều kiện tự nhiên.
Nếu quá trình đô thị hóa chỉ giữ lại một vài công trình nổi bật nhưng làm biến dạng cấu trúc làng, cảnh quan và không gian sản xuất thì giá trị di sản sẽ bị suy giảm. Đình, chùa hoặc nhà cổ khi ấy có thể vẫn tồn tại về mặt vật chất, nhưng bối cảnh làm nên ý nghĩa của chúng đã không còn.
Vì vậy, công tác kiểm kê di sản cần được thực hiện trước khi quyết định các dự án phát triển. Cần xác định đâu là yếu tố có giá trị đặc biệt phải bảo vệ, đâu là không gian có thể cải tạo và đâu là khu vực có thể tổ chức các hoạt động kinh tế, du lịch phù hợp.
Đáng chú ý, giá trị di sản không nhất thiết chỉ nằm trong những ngôi nhà đã được xếp hạng. Nhiều ngôi nhà được xây dựng ở các giai đoạn sau vẫn lưu giữ câu chuyện gia đình, nghề truyền thống, ký ức cộng đồng hoặc những hình thức sinh hoạt đặc trưng.
Một gia đình làm tương, dệt vải, làm mộc, chế biến nông sản hay duy trì một nghề thủ công có thể trở thành một mắt xích của hệ sinh thái di sản. Không gian sống khi ấy đồng thời là nơi sản xuất, truyền nghề và kể câu chuyện văn hóa.

Mô hình “làng di sản – du lịch” kết nối không gian kiến trúc truyền thống với hoạt động trải nghiệm và nghề thủ công, góp phần bảo tồn di sản, tạo sinh kế cho người dân địa phương.
Đây là cơ sở để hình thành mô hình “Làng di sản – du lịch”. Theo PGS.TS Phạm Hùng Cường, việc lựa chọn địa điểm không thể chỉ dựa trên số lượng nhà cổ hay mức độ nổi tiếng của di tích mà cần đánh giá tổng hợp các giá trị kiến trúc, cảnh quan, lịch sử, sinh thái, văn hóa phi vật thể và đặc biệt là khả năng tham gia của cộng đồng.
Một làng có thể không sở hữu những công trình quá nổi tiếng nhưng vẫn có giá trị nếu còn giữ được cấu trúc cư trú, nghề truyền thống, cảnh quan nông nghiệp, lễ hội và đời sống cộng đồng đặc trưng.
Như vậy, tài nguyên quan trọng nhất của một làng di sản không chỉ là những công trình đẹp để tham quan. Đó còn là câu chuyện, tri thức, nghề nghiệp và đời sống đang tiếp diễn.

Khi di sản được xác định là nguồn lực phát triển, câu hỏi tiếp theo là: khai thác đến đâu để không làm mất chính giá trị cần bảo vệ?
Trong thực tế, nhiều điểm đến vẫn đánh giá hiệu quả du lịch chủ yếu bằng số lượng khách. Tuy nhiên, đối với di sản, càng đông khách chưa chắc đồng nghĩa với càng nhiều giá trị.

Theo ông Lê Công Năng, Tổng Giám đốc WonderTour, quản trị di sản cần dựa trên sức chứa thay vì mục tiêu thu hút khách bằng mọi giá. Mỗi điểm đến có giới hạn nhất định về hạ tầng, giao thông, môi trường, không gian và khả năng tiếp nhận của cộng đồng.
Khi lượng khách vượt quá sức chịu tải, những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của di sản có thể bị suy giảm. Không gian bị quá tải, rác thải gia tăng, giao thông ùn tắc, hoạt động thương mại lấn át đời sống và các nghi lễ truyền thống có nguy cơ trở thành những màn trình diễn phục vụ du khách.
Bởi vậy, hiệu quả của du lịch di sản cần được nhìn bằng những chỉ số khác: thời gian lưu trú, mức chi tiêu, số việc làm tạo ra cho người dân địa phương, mức độ hài lòng của cộng đồng và nguồn lực được tái đầu tư cho bảo tồn.
Một điểm đến đón ít khách hơn nhưng tạo ra trải nghiệm sâu, kéo dài thời gian lưu trú và giúp nhiều hộ dân cùng hưởng lợi có thể tạo ra giá trị bền vững hơn một điểm đến đón lượng khách rất lớn trong thời gian ngắn.

Du khách trải nghiệm các điểm đến tiêu biểu tại Ninh Bình và Quảng Ninh, từ Tràng An, Tam Cốc – Bích Động, chùa Bái Đính đến vịnh Hạ Long và Yên Tử.
Theo hướng đó, sản phẩm du lịch di sản cần được tổ chức thành chuỗi trải nghiệm. Du khách không chỉ đến xem một ngôi đình hay một ngôi nhà cổ mà có thể đi bộ trong không gian làng, tìm hiểu nghề truyền thống, thưởng thức ẩm thực, nghe kể chuyện lịch sử, tham gia hoạt động sản xuất, lưu trú tại nhà dân và mua sản phẩm địa phương.
Cách tổ chức này vừa kéo dài thời gian lưu trú, vừa phân bổ nguồn thu cho nhiều nhóm: nghệ nhân, hộ sản xuất, người cung cấp dịch vụ lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn và kinh doanh sản phẩm địa phương.
Tuy nhiên, khai thác di sản phải tránh biến văn hóa thành một thứ hàng hóa trình diễn. Lễ hội, nghi lễ, nghề truyền thống hay sinh hoạt tín ngưỡng cần được tôn trọng về chủ thể, không gian và ý nghĩa. Người dân không thể trở thành “diễn viên” trong chính không gian văn hóa của mình. Đây là ranh giới rất quan trọng giữa phát triển du lịch dựa trên di sản và thương mại hóa di sản.
Nếu việc bảo tồn chỉ tạo thêm những quy định hạn chế sửa chữa nhà cửa, sản xuất, kinh doanh nhưng người dân không nhận được hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật hoặc sinh kế, di sản rất dễ trở thành gánh nặng. Ngược lại, khi người dân có thể sống được từ di sản, bảo tồn sẽ trở thành một lợi ích thiết thực.

Một ngôi nhà cổ có thể kết hợp lưu trú, giới thiệu nghề truyền thống và tổ chức trải nghiệm. Một hộ làm nghề thủ công có thể trở thành điểm tham quan nhỏ. Một không gian sân vườn có thể phục vụ ẩm thực địa phương. Một nghệ nhân có thể truyền nghề và tổ chức các lớp trải nghiệm.
Khi đó, giá trị kinh tế không tập trung vào một doanh nghiệp hay một điểm tham quan mà được phân bổ trong cộng đồng.
Điều quan trọng là phải thiết kế cơ chế để nguồn thu từ di sản quay trở lại di sản. Một phần doanh thu du lịch có thể được dành cho tu bổ công trình, bảo vệ cảnh quan, đào tạo nghệ nhân, hỗ trợ nghề truyền thống và duy trì các hoạt động văn hóa.
Theo đó, mỗi địa phương cần xác định rõ những giá trị đặc trưng về lịch sử, cảnh quan, di sản và đời sống cộng đồng; đồng thời xây dựng cơ chế để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội cùng tham gia bảo tồn.
Ở đây, vấn đề không chỉ là “ai bảo tồn di sản?”, mà còn phải trả lời câu hỏi “ai được hưởng lợi từ di sản?”
Nếu giá trị bất động sản tăng lên nhưng người dân địa phương không thể tiếp tục sinh sống và làm nghề, quá trình khai thác đó khó có thể được coi là phát triển bền vững.

Thực tiễn Ninh Bình cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý: Không xem di sản như những điểm tham quan tách biệt mà xây dựng hệ thống sản phẩm dựa trên cảnh quan, lịch sử, văn hóa và đời sống địa phương.
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch tỉnh Ninh Bình cho biết, toàn tỉnh hiện có hơn 5.000 di tích và 954 lễ hội gắn với di tích, tạo nên hệ thống di sản kiến trúc – văn hóa phong phú. Trong đó, cầu ngói Phát Diệm và quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm, nơi kết hợp hài hòa kiến trúc phương Đông và phương Tây, là những công trình tiêu biểu, mang dấu ấn riêng của vùng đất Ninh Bình.

Theo ông Minh, nguyên tắc xuyên suốt của tỉnh là phát triển du lịch trên nền tảng bảo tồn nguyên trạng kiến trúc, không đánh đổi giá trị gốc để lấy lợi ích kinh tế trước mắt. Ninh Bình đã chú trọng quy hoạch, phân định rõ khu vực phát triển công nghiệp, dịch vụ với khu bảo tồn, đồng thời tạo “vùng đệm” bảo vệ các công trình di sản.
Trong giai đoạn tới, ngành Du lịch Ninh Bình tiếp tục lấy di sản kiến trúc làm trục phát triển, gắn với mục tiêu xây dựng Đô thị Di sản Thiên niên kỷ. Tỉnh tập trung hoàn thiện quy hoạch không gian di sản, bảo đảm các dự án kinh tế và đô thị hóa được triển khai hài hòa với yêu cầu bảo tồn.
Cùng với đó, Ninh Bình sẽ phát triển các sản phẩm du lịch chuyên sâu như du lịch đêm tại không gian Cố đô Hoa Lư, tour khám phá kiến trúc kết hợp tìm hiểu làng nghề truyền thống; đồng thời tăng cường liên kết vùng để hình thành các tuyến du lịch di sản.
Ông Nguyễn Văn Minh nhấn mạnh, mỗi hướng dẫn viên và người dân cần trở thành một “đại sứ” giới thiệu di sản. Chỉ khi cộng đồng hiểu, trân trọng và chủ động bảo vệ giá trị kiến trúc, di sản mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển du lịch bền vững.

Ninh Bình phát huy giá trị di sản kiến trúc, văn hóa và cảnh quan để phát triển du lịch bền vững, hướng tới xây dựng Đô thị Di sản Thiên niên kỷ.
Kinh nghiệm từ nhiều địa phương cho thấy, di sản chỉ thực sự được bảo vệ khi người dân nhìn thấy lợi ích lâu dài từ việc gìn giữ. Nếu bảo tồn chỉ đặt ra những hạn chế đối với sửa chữa nhà cửa, sản xuất hoặc kinh doanh mà không có cơ chế hỗ trợ, người dân dễ coi di sản là gánh nặng. Ngược lại, nếu có chính sách tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nghề và chia sẻ nguồn thu, cộng đồng sẽ có động lực trở thành chủ thể bảo tồn.
Vì vậy, phát triển du lịch di sản phải được đặt trong một giới hạn rõ ràng: khai thác giá trị nhưng không tiêu dùng chính giá trị đó.
Hội An là trường hợp cho thấy rõ cả thành công và những thách thức của quá trình phát triển dựa trên di sản. Giá trị của Hội An không chỉ nằm ở những ngôi nhà cổ mà còn ở cấu trúc đô thị, cảnh quan sông nước, hoạt động thương mại, nghề truyền thống và đời sống cộng đồng.

Khi du lịch phát triển, di sản tạo ra nguồn thu lớn và góp phần hình thành thương hiệu địa phương. Nhưng đồng thời, sức ép từ bất động sản, giao thông, các công trình dịch vụ và lượng khách gia tăng cũng đặt ra những câu hỏi về sức chịu tải.
Bài học quan trọng ở đây là bảo tồn không thể dừng ở phạm vi khu phố cổ. Những biến động về cảnh quan, giao thông, mặt nước, vùng sinh thái và không gian sản xuất xung quanh đều có thể tác động trở lại giá trị của khu di sản.
Vì thế, quản trị di sản phải có tầm nhìn rộng hơn ranh giới của một di tích hay khu bảo tồn. Không thể bảo vệ “lõi di sản” nếu vùng đệm xung quanh bị phá vỡ.

Di sản kiến trúc chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi ba lợi ích được đặt trong cùng một bài toán: bảo tồn giá trị – phát triển kinh tế – nâng cao chất lượng sống của cộng đồng.
Nếu chỉ chú trọng bảo tồn mà không tạo sinh kế, di sản có thể trở thành gánh nặng. Nếu chỉ chú trọng khai thác, di sản có nguy cơ bị thương mại hóa và mất giá trị. Nếu chỉ chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt, địa phương có thể đánh mất nguồn tài nguyên văn hóa mà không thể phục hồi.
Vì thế, mỗi địa phương cần lựa chọn mô hình phù hợp với đặc điểm riêng. Có nơi thế mạnh nằm ở kiến trúc; nơi khác là cảnh quan nông nghiệp; có nơi phát triển nghề thủ công, ẩm thực, lễ hội hoặc nghệ thuật trình diễn.
Không nên biến “làng di sản – du lịch” thành một mô hình áp dụng đồng loạt. Điều cần nhân rộng là phương pháp nhận diện giá trị, sự tham gia của cộng đồng và nguyên tắc khai thác có giới hạn.

Di sản trở thành nguồn lực nội sinh khi giá trị kiến trúc, nghề thủ công và tri thức bản địa được bảo tồn, kết nối với du lịch cộng đồng, sinh kế người dân và công nghệ số.
Di sản, xét đến cùng, không phải một món đồ được cất giữ trong tủ kính. Nó chỉ thực sự có sức sống khi tiếp tục hiện diện trong đời sống, tạo ra cơ hội việc làm, nuôi dưỡng nghề truyền thống, thúc đẩy sáng tạo và giúp cộng đồng nhận ra giá trị của nơi mình đang sống.
Bảo tồn vì thế không có nghĩa là đóng băng quá khứ. Đó là tạo điều kiện để những giá trị có ý nghĩa của quá khứ tiếp tục tham gia vào đời sống hiện tại.
Một ngôi nhà cổ được giữ lại là một giá trị. Một ngôi nhà cổ tiếp tục có người ở, có nghề, có câu chuyện và tạo ra sinh kế lại là một giá trị lớn hơn. Một làng quê vừa giữ được ký ức, vừa tạo ra cơ hội phát triển cho thế hệ trẻ mới thực sự là một di sản sống.

Di sản kiến trúc không chỉ lưu giữ ký ức lịch sử mà còn trở thành nguồn lực nội sinh, thúc đẩy du lịch, tạo sinh kế cho cộng đồng và đóng góp vào phát triển bền vững.
Đó cũng là hướng tiếp cận để di sản kiến trúc không chỉ là chứng tích của lịch sử mà trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững; để mỗi vùng đất có thể phát triển mà không phải đánh đổi căn tính, và để những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ tiếp tục tạo ra ý nghĩa cho tương lai.