11:28 23/08/2026 GMT+7

PV: Trong quá trình đô thị hóa, không gian công cộng đang bị thu hẹp hoặc thương mại hóa như thế nào? Điều này tác động ra sao đến chất lượng sống và khả năng hình thành cộng đồng đô thị?

KTS Trần Huy Ánh: Hà Nội có diện tích tự nhiên khoảng 3.360km², trong đó đất đô thị đã vượt 1.500km². Theo các quy hoạch mới, diện tích này có thể đạt gần 2.000km², chiếm khoảng 70% diện tích thành phố. Đất đô thị chủ yếu dành cho nhà ở thương mại và hạ tầng khu ở, khiến diện tích sàn nhà ở tăng mạnh. Từ 12 triệu mét vuông năm 2002, diện tích sàn dự kiến đạt 360 triệu mét vuông vào năm 2030, tăng khoảng 30 lần.

Tuy nhiên, đất giao thông hiện chiếm dưới 10%, trong khi nhu cầu khoảng 20–25%, dẫn đến ùn tắc và thiếu chỗ đỗ xe. Việc quá chú trọng khai thác bất động sản đã làm thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật, xã hội thiết yếu. Quá trình mở rộng đô thị còn kéo theo san lấp ruộng, thu hẹp thảm thực vật, mặt nước và vùng bán ngập, làm thay đổi địa hình, mất cân bằng sinh thái và gia tăng úng ngập.

Hơn 20 năm qua, nhiều khu đô thị mới được xây dựng trên đất ruộng của các làng ven đô, hình thành hai loại hình cư trú cạnh nhau nhưng thiếu kết nối. Việc san nền, chia cắt kênh mương khiến nước mưa tràn vào làng xóm cũ. Nhiều dự án hoàn thành nhà ở thương mại nhưng chậm xây dựng trường học, công viên, chợ, bãi đỗ xe, thiết chế văn hóa và công trình tín ngưỡng.

Hệ quả là hạ tầng làng cũ bị quá tải, trong khi cư dân khu đô thị mới lại thiếu những không gian để giao tiếp và hình thành cộng đồng. Đô thị có thể phát triển nhanh về quy mô nhưng nếu thiếu không gian chung thì rất khó tạo ra một đời sống đô thị bền vững.

PV: Quy hoạch đô thị cần thay đổi như thế nào để không gian văn hóa trở thành một phần của cấu trúc đô thị, thay vì chỉ được bổ sung sau khi các khu chức năng đã được xác lập?

KTS Trần Huy Ánh: Có một thực tế đáng lưu ý là phần lớn đồ án quy hoạch hiện nay vẫn được tiếp cận chủ yếu từ góc độ phân bổ đất đai và tổ chức không gian xây dựng. Sự tham gia của các chuyên gia văn hóa, xã hội, lịch sử, sinh thái và môi trường chưa phải lúc nào cũng đầy đủ và thực chất.

Vì vậy, không ít đồ án mới dừng lại ở việc tổ chức không gian theo tư duy hình học, chú trọng hiệu quả sử dụng đất và hình thức thị giác nhưng thiếu chiều sâu về đời sống cộng đồng.

Quy hoạch cần chuyển từ tư duy “chia đất để xây dựng” sang tư duy “tổ chức môi trường sống”. Trong đó, không gian công cộng, cảnh quan, mặt nước, cây xanh, thiết chế văn hóa và những địa điểm có giá trị ký ức phải được xác định ngay từ đầu như những thành phần cấu trúc của đô thị.

Một khu đô thị không thể chỉ có nhà ở, đường giao thông và các công trình thương mại. Người dân cần những nơi để gặp nhau, vui chơi, sinh hoạt văn hóa, tổ chức sự kiện và hình thành các mối quan hệ xã hội.

Do đó, quy hoạch trong giai đoạn mới cần đánh giá cả những giá trị khó đo đếm bằng diện tích hay hệ số sử dụng đất: Ký ức của địa điểm, mối quan hệ cộng đồng, hệ sinh thái và khả năng tiếp cận không gian chung.

PV: Hà Nội sở hữu hệ thống di sản, phố cũ, làng cổ, hồ nước và không gian cộng đồng phong phú. Thành phố cần làm gì để những giá trị này tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại?

KTS Trần Huy Ánh: Theo tôi, vấn đề không phải chỉ là giữ lại bao nhiêu công trình cổ, mà là làm thế nào để những không gian đó tiếp tục có vai trò trong đời sống thành phố.

Hà Nội cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận bảo tồn đơn lẻ sang quản lý tổng thể các hệ thống di sản và không gian văn hóa. Phố cổ, phố cũ, làng cổ, hồ nước, cây xanh, không gian tín ngưỡng và những địa điểm gắn với ký ức cộng đồng cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với nhau.

Người dân phố cổ và các làng cổ như Đường Lâm, Bát Tràng, Đông Ngạc phải trở thành chủ thể của quá trình bảo tồn. Họ cần có điều kiện duy trì nghề truyền thống, hoạt động dịch vụ văn hóa và những sinh hoạt tạo nên sức sống của địa phương.

Hà Nội sở hữu hệ thống di sản, phố cũ, làng cổ, hồ nước và không gian cộng đồng phong phú.

Đối với di sản công nghiệp và kiến trúc cũ, cần đẩy mạnh tái sử dụng thích ứng. Thành công của Lễ hội Thiết kế sáng tạo năm 2024 tại Nhà máy Xe lửa Gia Lâm cho thấy những công trình từng thuộc về quá khứ hoàn toàn có thể trở thành địa điểm cho đời sống văn hóa đương đại.

Các không gian như bốt nước Hàng Đậu, một số nhà máy cũ hay biệt thự Pháp cổ có thể được nghiên cứu để chuyển đổi thành thư viện, không gian nghệ thuật, triển lãm, sáng tạo hoặc sinh hoạt cộng đồng phù hợp với giá trị và điều kiện của từng công trình.

Đối với hồ nước và không gian xanh, cần hạn chế bê tông hóa, thương mại hóa bờ hồ; đồng thời phục hồi hệ sinh thái và tăng sự tham gia của cộng đồng trong quản lý.

Di sản chỉ thực sự được bảo vệ lâu dài khi nó tiếp tục tạo ra giá trị cho đời sống hôm nay.

PV: Kiến trúc và quy hoạch có thể góp phần kết nối con người, khuyến khích giao tiếp xã hội và hình thành tinh thần cộng đồng như thế nào, thưa ông?

KTS Trần Huy Ánh: Kiến trúc và quy hoạch đô thị – nông thôn giữ vai trò như “khung đỡ vật lý” cho các tương tác xã hội. Nếu muốn xây dựng cộng đồng bền vững, quy hoạch phải tạo ra những không gian đủ gần, đủ mở và đủ linh hoạt để mọi người có thể gặp nhau.

Trước hết, cần tạo thêm các khoảng đệm và không gian công cộng nhỏ trong khu dân cư, khắc phục sự đứt gãy giao tiếp do đô thị nén, chung cư khép kín và những khu ở “kín cổng cao tường”.

Tại phố cổ, phố cũ, cần bảo đảm không gian đi bộ và tạo điều kiện cho những hoạt động giao tiếp đặc trưng của Hà Nội. Những không gian nhỏ như vỉa hè, góc phố, sân chơi nếu được tổ chức tốt đều có thể trở thành nơi hình thành quan hệ xã hội.

Tại làng ven đô và nông thôn, sân đình, giếng nước, cây đa, chợ, đường làng, ao làng, đền, miếu có thể được nâng cấp thành những không gian sinh hoạt đa năng. Những bãi rác tự phát, góc ngõ và “khoảng trống chết” cũng có thể cải tạo thành sân chơi, vườn cộng đồng hoặc nơi tập thể dục.

Đối với những khu đô thị xây trên đất làng cũ, cần đặc biệt quan tâm vùng tiếp giáp giữa khu dân cư mới và cộng đồng cũ. Công viên mở, phố đi bộ, trung tâm thể thao hoặc các thiết chế cộng đồng có thể trở thành không gian dùng chung, giúp hạn chế sự chia cắt xã hội.

Quy hoạch cũng cần có sự tham gia thực chất của cộng đồng. Khi người dân được đóng góp ý tưởng và công sức, họ sẽ có trách nhiệm lớn hơn trong việc gìn giữ không gian chung.

PV: Trong xây dựng nông thôn mới, không ít công trình mang dáng dấp đô thị, làm biến đổi cấu trúc làng và cảnh quan truyền thống. Theo ông, cần xác lập những nguyên tắc nào để nông thôn vừa hiện đại, tiện nghi, vừa giữ được đời sống riêng?

KTS Trần Huy Ánh: Hiện tượng “đô thị hóa cưỡng bức” tại nhiều làng quê Bắc Bộ, với những nhà văn hóa bê tông hóa theo mẫu, cổng làng phô trương và nhà ống chia lô xuất hiện tràn lan, đang làm rạn nứt cấu trúc cảnh quan truyền thống.

Điều quan trọng trước hết là phải xác định nông thôn không phải phiên bản thu nhỏ của đô thị. Mỗi làng quê có lịch sử hình thành, cấu trúc xã hội và quan hệ với tự nhiên riêng. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới cần bắt đầu từ việc hiểu cấu trúc hiện hữu thay vì xóa bỏ rồi xây lại theo một mẫu chung.

Cần bảo vệ những thiết chế gắn với đời sống cộng đồng như đình làng, chùa làng, bến nước, cây đa, ao hồ, giếng, lũy tre, đường làng, văn chỉ, nghè, miếu, đền, chợ và nghĩa trang. Công trình mới không nên che khuất hoặc phá vỡ những điểm mốc có giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh.

Bên cạnh đó, cần bảo vệ những không gian sinh thái của làng như ao, vườn, kênh rạch, cây xanh và hàng rào. Đây không chỉ là cảnh quan mà còn là một phần của hệ thống thoát nước và điều hòa vi khí hậu.

Quy hoạch cũng cần duy trì tính mở của xóm ngõ, hạn chế chia lô cứng nhắc và nhà ở dày đặc. Những giải pháp hiện đại phải được tích hợp vào cấu trúc làng thay vì thay thế hoàn toàn cấu trúc ấy.

Một nguyên tắc quan trọng khác là kiến trúc mới phải phục vụ đời sống thực tế. Nhà ở nông thôn cần tính đến sinh hoạt, sản xuất, lưu trữ và những nhu cầu đặc thù của từng địa phương; công trình công cộng phải được thiết kế theo nhu cầu sử dụng thực tế chứ không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn xây dựng.

PV: Nhiều thiết chế văn hóa cơ sở được đầu tư xây dựng nhưng hoạt động chưa hiệu quả, thiếu nội dung và chưa thu hút người dân. Theo ông, vấn đề nằm ở thiết kế không gian, cơ chế vận hành hay sự tham gia của cộng đồng?

KTS Trần Huy Ánh: Thực trạng nhiều nhà văn hóa, trung tâm văn hóa – thể thao cơ sở rơi vào cảnh “trùm mền”, ít người sử dụng đã tồn tại nhiều năm. Nguyên nhân liên quan đến cả ba yếu tố: thiết kế không gian, cơ chế vận hành và sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên, hạn chế về cơ chế vận hành là nguyên nhân quan trọng.

Nhiều thiết chế được vận hành theo tư duy hành chính hóa, hoạt động chủ yếu trong giờ hành chính và phục vụ hội họp, tuyên truyền hoặc sự kiện định kỳ. Ngân sách tập trung cho xây dựng, mua sắm trang thiết bị nhưng thiếu kinh phí duy trì hoạt động, sáng tạo nội dung và bảo trì.

KTS Trần Huy Ánh Tới thăm và làm việc với KTS Mochizuki Shinichi tại Văn phòng Tokyo 2011.

Không ít nhà văn hóa được xây dựng theo mẫu đồng loạt, giống một hội trường thu nhỏ với sân khấu và hàng ghế cố định. Thiết kế cứng nhắc khiến công trình khó phục vụ đồng thời người cao tuổi, trẻ em, thanh niên và các nhóm dân cư khác nhau.

Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “xây nhà văn hóa” sang “tạo ra đời sống văn hóa”. Không gian cần linh hoạt, có thể kết hợp thư viện mở, khu vui chơi, sân thể thao, phòng học, không gian sinh hoạt câu lạc bộ và nơi tổ chức các hoạt động cộng đồng.

Trước khi xây dựng hoặc cải tạo, cần khảo sát nhu cầu của từng nhóm dân cư và để cộng đồng tham gia xác định nội dung hoạt động.

Cơ chế quản lý cũng cần thay đổi. Có thể đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác công – tư, trao quyền cho các tổ chức xã hội, doanh nghiệp sáng tạo và nhóm cộng đồng tham gia vận hành dưới sự giám sát của Nhà nước.

Lối thoát không nằm ở việc tiếp tục rót tiền xây dựng, mà ở việc biến nhà văn hóa từ một “tòa nhà công” thành một “ngôi nhà chung”.

PV: Việc chuyển đổi nhà máy cũ, công trình công nghiệp và những khu đất chưa được khai thác hiệu quả thành không gian văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo có thể đem lại giá trị gì? Hà Nội cần cơ chế nào để những mô hình này tồn tại bền vững?

KTS Trần Huy Ánh: Việc tái thiết nhà máy cũ, công trình công nghiệp có giá trị và những quỹ đất chậm triển khai thành không gian văn hóa – sáng tạo là một hướng phát triển đô thị đáng chú ý. Với Hà Nội, mô hình này vừa bảo tồn ký ức đô thị, vừa tạo động lực cho kinh tế sáng tạo.

Thay vì phá bỏ toàn bộ nhà máy để xây dựng công trình mới, tái sử dụng thích ứng giúp giữ lại kết cấu, kiến trúc và dấu tích sản xuất – những yếu tố tạo nên ký ức công nghiệp của thành phố. Nhà xưởng cũ có thể trở thành không gian sáng tác, trình diễn, triển lãm, thiết kế, giáo dục hoặc khởi nghiệp sáng tạo.

Việc chuyển đổi còn tạo ra chuỗi giá trị từ nghệ thuật, thiết kế, ẩm thực, dịch vụ và sự kiện; đồng thời tận dụng lại công trình hiện hữu, giảm chất thải xây dựng và bổ sung không gian công cộng.

Mặc dù Hà Nội gia nhập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO từ năm 2019, nhiều không gian sáng tạo vẫn gặp khó khăn do vướng mắc pháp lý và chi phí. Không ít nhà máy cũ, khu đất dự trữ đứng trước nguy cơ bị chuyển đổi hoàn toàn sang mục đích bất động sản thương mại.

Hà Nội cần lập danh mục những công trình công nghiệp có giá trị lịch sử, kiến trúc và xây dựng cơ chế sử dụng linh hoạt. Nhà nước có thể giữ quyền sở hữu đất, nhà xưởng nhưng cho các tổ chức xã hội, doanh nghiệp sáng tạo thuê dài hạn theo tiêu chí đóng góp cho cộng đồng và đời sống văn hóa.

Điều quan trọng là phải tạo được cơ chế để những không gian này có thể hoạt động ổn định, thay vì chỉ xuất hiện như những địa điểm tổ chức sự kiện ngắn hạn.

PV: Từ thực tiễn nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp, ông có thể phân tích một mô hình phát triển đô thị hoặc nông thôn gắn với bảo tồn văn hóa? Đâu là yếu tố quyết định thành công?

KTS Trần Huy Ánh: Thực tế tại Việt Nam, rất khó tìm được một mô hình hoàn toàn thành công trong việc gắn tăng trưởng kinh tế với bảo tồn văn hóa. Hội An từng được đánh giá là một trường hợp đáng chú ý về bảo tồn di sản, phát triển du lịch và quản trị đô thị cổ gắn với vùng nông nghiệp ven đô. Tuy nhiên, những thành quả đó cũng cho thấy bảo tồn luôn cần được tiếp tục bằng chính sách nhất quán và tầm nhìn dài hạn.

KST Trần Huy Ánh và KTS Mai Thế Nguyên ( Việt kiều ở Nauy) và KTS Nauy Jorn Narud trong một chuyến khảo cứu Kiến trúc tại xứ Đoài.

Trước đây, Hội An đã bảo vệ tương đối tốt phố cổ, làng nông nghiệp, bãi biển, hệ thống sông, đầm, cửa biển, Cù Lao Chàm và không gian biển. Nhưng quá trình phát triển sau đó cũng đặt ra những thách thức mới. Một số dự án bất động sản, hạ tầng giao thông và hoạt động thương mại có nguy cơ làm suy giảm sự cân bằng giữa đô thị, sinh thái và cộng đồng.

Điều đáng rút ra là không thể xem bảo tồn như một nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa. Bảo tồn phải được tích hợp vào quy hoạch, giao thông, môi trường, kinh tế, du lịch và chính sách phát triển cộng đồng.

Tại Hà Nội, sau hơn 20 năm đô thị hóa nhanh, nhiều làng xóm cũ bị thu hẹp không gian sinh hoạt; trong khi các khu đô thị mới thu hút lượng dân cư lớn nhưng thiếu kết nối với cộng đồng hiện hữu. Vì vậy, bài toán đặt ra không phải lựa chọn giữa làng cũ và đô thị mới, mà là tạo ra những không gian chuyển tiếp để hai hệ thống cư trú có thể cùng tồn tại và hỗ trợ nhau.

Một hướng đáng nghiên cứu là mô hình “làng văn hiến trong thành phố hiện đại”, trong đó văn hóa và lịch sử làng trở thành hạt nhân để kết nối cư dân, còn hạ tầng hiện đại được tổ chức nhằm hỗ trợ chứ không xóa bỏ cấu trúc cộng đồng.

Nếu làm được điều đó, đô thị mới sẽ không phải là sự thay thế hoàn toàn cho những gì đã có, mà trở thành một lớp phát triển mới trong lịch sử của địa phương.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Kỳ 4: Di sản kiến trúc – Nguồn lực cho phát triển bền vững

TỪ KHÓA #văn hóa #kiến trúc #công trình
Tin cùng chuyên mục