10:36 22/08/2026 GMT+7

PV: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ xây dựng, theo ông, nên hiểu “bản sắc kiến trúc Việt Nam” như thế nào để tránh đồng nhất bản sắc với việc sao chép hình thức kiến trúc truyền thống?

TS Phạm Minh Quân: Trước hết cần phân biệt rất rõ giữa bản sắc kiến trúc và hình thức kiến trúc truyền thống. Đây là hai khái niệm có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất. Nếu coi bản sắc là mái ngói, mái cong, đầu đao, hoa văn, cột gỗ hay một vài mô-típ trang trí quen thuộc thì chúng ta rất dễ rơi vào tình trạng “giả truyền thống”, tức là đưa những dấu hiệu của quá khứ vào một công trình mới nhưng không thực sự kế thừa được tinh thần của kiến trúc truyền thống.

Bản sắc, theo nghĩa sâu hơn, là tổng hòa những giá trị được hình thành từ địa điểm, khí hậu, cảnh quan, vật liệu, kỹ thuật xây dựng, phương thức tổ chức cộng đồng và lối sống của một xã hội.

Chẳng hạn, nhà ở truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ có hiên, sân, vườn, những không gian chuyển tiếp giữa trong và ngoài. Đó không đơn thuần là lựa chọn thẩm mỹ mà là kết quả của quá trình thích nghi với khí hậu, môi trường và cấu trúc gia đình. Điều đáng học hỏi ở đây không chỉ là hình thức của ngôi nhà mà là tư duy ứng xử với điều kiện sống.

Vì vậy, kiến trúc đương đại hoàn toàn có thể rất mới về hình thức mà vẫn rất Việt Nam nếu nó tiếp tục giải quyết những vấn đề mà kiến trúc Việt Nam từng giải quyết bằng những phương thức khác. Một công trình sử dụng kính, thép, bê tông hay vật liệu công nghệ cao không vì thế mà mất bản sắc. Ngược lại, một công trình sử dụng nhiều mái ngói, gỗ và hoa văn truyền thống cũng chưa chắc đã có bản sắc.

Điều quan trọng là công trình có thực sự bắt nguồn từ nơi chốn và chuyển hóa được những giá trị văn hóa của nơi chốn đó thành một ngôn ngữ kiến trúc mới hay không.

Tôi cho rằng đây cũng là cách chúng ta nên nhìn nhận truyền thống trong nghệ thuật nói chung. Truyền thống không phải một “hình mẫu” để sao chép mà là một nguồn tri thức và nguồn lực sáng tạo để thế hệ hiện tại tiếp tục diễn giải.

PV: Bản sắc kiến trúc Việt Nam hiện nay đang đứng trước những cơ hội và thách thức nào? Đâu là nguy cơ lớn nhất khiến các công trình mới ngày càng giống nhau?

TS Phạm Minh Quân: Chúng ta đang đứng trước một nghịch lý khá thú vị. Một mặt, điều kiện sáng tác kiến trúc hiện nay thuận lợi hơn rất nhiều so với trước đây. Kiến trúc sư Việt Nam có thể tiếp cận nhanh chóng với những xu hướng thiết kế quốc tế, công nghệ mô phỏng, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới và các tiêu chuẩn về công trình xanh. Đây là cơ hội rất lớn để kiến trúc Việt Nam nâng cao chất lượng và tham gia sâu hơn vào đời sống kiến trúc quốc tế.

Nhưng mặt khác, chính khả năng tiếp cận quá nhanh với các mô hình toàn cầu lại tạo ra nguy cơ đồng nhất hóa. Chúng ta có thể bắt gặp những khách sạn, khu đô thị, trung tâm thương mại hay khu nghỉ dưỡng với hình thức tương tự nhau ở nhiều tỉnh, thành. Khi một mô hình được thị trường chứng minh là thành công, nó nhanh chóng được nhân rộng, trong khi những khác biệt về khí hậu, cảnh quan, lịch sử và văn hóa địa phương lại bị xem là yếu tố thứ yếu.

Nguyên nhân không chỉ nằm ở kiến trúc sư. Đây là vấn đề của cả hệ thống phát triển đô thị, trong đó có chủ đầu tư, thị trường bất động sản, quy hoạch, cơ chế quản lý và thị hiếu xã hội. Khi hiệu quả đầu tư được đặt lên trước chất lượng địa điểm, kiến trúc rất dễ trở thành một sản phẩm có thể sao chép.

Nguy cơ lớn nhất vì thế không phải là chúng ta “mất” một vài hình thức kiến trúc truyền thống mà là mất khả năng tạo ra những công trình có lý do tồn tại riêng trong một địa điểm cụ thể. Một công trình đẹp nhưng có thể đặt ở bất kỳ thành phố nào trên thế giới thì vẫn thiếu căn tính.

PV: Xu hướng quốc tế hóa trong thiết kế mang lại nhiều tư duy, công nghệ và vật liệu mới. Làm thế nào để kiến trúc Việt Nam tiếp nhận những giá trị tiến bộ của thế giới mà không đánh mất căn tính văn hóa?

TS Phạm Minh Quân: Tôi nghĩ cần thay đổi cách đặt vấn đề. Không nên hỏi “làm thế nào để giữ bản sắc trước sự quốc tế hóa”, bởi bản thân kiến trúc Việt Nam trong lịch sử đã luôn được hình thành thông qua giao lưu và tiếp biến văn hóa. Câu hỏi đúng hơn là chúng ta tiếp nhận những yếu tố quốc tế bằng năng lực sáng tạo của chính mình như thế nào.

Nhìn lại lịch sử, kiến trúc Việt Nam đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng bên ngoài, từ Trung Hoa, Ấn Độ cho đến kiến trúc Pháp và kiến trúc hiện đại thế kỷ XX. Nhưng những yếu tố đó khi đi vào Việt Nam đều trải qua quá trình biến đổi để thích nghi với khí hậu, vật liệu, kỹ thuật, xã hội và thẩm mỹ địa phương. Chính quá trình tiếp biến ấy tạo nên những giá trị mới.

Ngày nay cũng vậy. Chúng ta hoàn toàn nên sử dụng BIM, trí tuệ nhân tạo, thiết kế tham số, vật liệu carbon thấp, hệ thống mặt dựng hiện đại hay các công nghệ tiết kiệm năng lượng. Nhưng công nghệ chỉ là phương tiện. Câu hỏi quan trọng là công nghệ đó được sử dụng để giải quyết vấn đề nào của Việt Nam.

Ví dụ, một giải pháp mặt đứng tiên tiến nếu được thiết kế để giảm bức xạ nhiệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới Việt Nam sẽ có ý nghĩa rất khác so với việc sử dụng nó đơn thuần vì hình thức đang thịnh hành.

Do đó, kiến trúc Việt Nam nên chuyển từ tư duy học theo thế giới sang tư duy đối thoại với thế giới. Khi đó, chúng ta không đứng ngoài quá trình hiện đại hóa, nhưng cũng không trở thành bản sao của bất kỳ nền kiến trúc nào khác.

PV: Một công trình kiến trúc hiện đại cần đáp ứng những tiêu chí nào để vừa có ngôn ngữ đương đại, vừa thể hiện được tinh thần của vùng đất nơi công trình hiện diện?

TS Phạm Minh Quân: Có thể bắt đầu từ một câu hỏi rất đơn giản trước khi thiết kế: Nếu bỏ tên công trình và biển chỉ dẫn đi, người ta có thể nhận ra công trình này thuộc về nơi nào hay không? Đây là phép thử hữu ích để suy nghĩ về tính địa điểm trong kiến trúc.

Một công trình có bản sắc trước hết phải “đọc” được nơi chốn. Điều đó thể hiện qua cách công trình ứng xử với địa hình, hướng nắng, hướng gió, cây xanh, mặt nước và cảnh quan. Nhưng sâu hơn nữa là cách nó liên hệ với lịch sử, ký ức và đời sống xã hội của cộng đồng.

Công trình kiến trúc Sân vận động Trống đồng hiện đại mang biểu tượng văn hóa Việt Nam.

Mỗi vùng đất có một hệ thống ký ức, biểu tượng, tập quán và quan niệm khác nhau về không gian. Nếu kiến trúc chỉ xử lý phần “vỏ” mà không nghiên cứu những tầng văn hóa đó thì rất khó tạo ra một công trình thực sự thuộc về địa phương.

Tôi thường hình dung một công trình có bản sắc cần hội tụ bốn yếu tố: Đúng nơi chốn, đúng văn hóa, đúng điều kiện môi trường và có khả năng sáng tạo. “Đúng” ở đây không có nghĩa là bảo thủ. Một công trình có thể rất hiện đại, thậm chí rất khác với kiến trúc truyền thống, nhưng nếu được hình thành từ sự hiểu biết sâu về nơi chốn thì vẫn có khả năng trở thành một phần của lịch sử kiến trúc địa phương.

Đó cũng là sự khác biệt giữa kế thừa và phục cổ. Phục cổ là làm cho cái mới trông giống cái cũ. Kế thừa là tìm ra những giá trị của cái cũ có thể tiếp tục sống trong điều kiện mới.

PV: Kiến trúc xanh thường được tiếp cận chủ yếu từ góc độ tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Việt Nam có thể phát huy những tri thức truyền thống nào để tạo ra các giải pháp xanh phù hợp hơn?

TS Phạm Minh Quân: Đây là lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế rất lớn. Trước khi có khái niệm “kiến trúc xanh”, kiến trúc truyền thống Việt Nam đã hình thành nhiều giải pháp thích ứng với khí hậu mà ngày nay chúng ta gọi bằng những thuật ngữ hiện đại như thông gió thụ động, che nắng, thông khí tự nhiên hay thiết kế vi khí hậu.

Những không gian như hiên, sân, vườn, khoảng chuyển tiếp giữa trong và ngoài không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn giúp công trình thích ứng với khí hậu. Nhà sàn ở nhiều cộng đồng miền núi cũng cho thấy sự kết hợp giữa địa hình, khí hậu, sinh hoạt và quan hệ cộng đồng.

Vấn đề hiện nay là chúng ta thường có xu hướng nhập khẩu các giải pháp công trình xanh mà chưa nghiên cứu đầy đủ những tri thức đã tồn tại tại địa phương. Một công trình có hệ thống điều hòa rất hiện đại nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào năng lượng cơ học chưa chắc phù hợp bằng một công trình biết tận dụng hướng gió, bóng cây, mặt nước và không gian bán ngoài trời.

Tôi không cho rằng chúng ta cần quay trở lại kiến trúc truyền thống. Điều cần thiết là đọc lại những kinh nghiệm ấy bằng công cụ của khoa học hiện đại. Nếu dùng mô phỏng khí hậu, vật lý công trình và dữ liệu môi trường để kiểm chứng những kinh nghiệm truyền thống, chúng ta có thể biến tri thức bản địa thành những giải pháp thiết kế có cơ sở khoa học.

Theo nghĩa đó, kiến trúc xanh Việt Nam trong tương lai nên được xây dựng từ sự gặp gỡ giữa công nghệ hiện đại và trí tuệ sinh thái bản địa.

PV: Vật liệu truyền thống như tre, gỗ, đá, đất, gạch và ngói có thể được ứng dụng như thế nào trong kiến trúc đương đại để tránh rơi vào tình trạng trang trí hình thức?

TS Phạm Minh Quân: Tôi nghĩ vấn đề nằm ở chữ “vai trò”. Một vật liệu truyền thống chỉ thực sự có ý nghĩa trong kiến trúc đương đại khi nó có một vai trò về kết cấu, khí hậu, công năng, môi trường hoặc văn hóa, chứ không chỉ được sử dụng để tạo ra một hình ảnh mang tính bản địa.

Ví dụ, tre có thể được sử dụng như một hệ kết cấu hoặc giải pháp tạo bóng và thông gió; gạch có thể tham gia vào việc điều tiết ánh sáng và nhiệt; gỗ có thể tạo ra cấu trúc không gian và cảm giác xúc giác; đá có thể được sử dụng dựa trên đặc tính nhiệt và khả năng thích nghi với điều kiện địa phương.

Công nghệ hiện nay cũng mở ra nhiều khả năng mới. Tre kỹ thuật, gỗ ghép, vật liệu đất cải tiến hay các công nghệ xử lý bề mặt có thể nâng cao độ bền và khả năng ứng dụng của vật liệu truyền thống.

Tôi cho rằng câu hỏi quan trọng không phải là “có nên dùng tre, gỗ hay gạch không”, mà là vật liệu nào phù hợp nhất với địa điểm, công năng, khí hậu và nguồn lực của công trình. Khi trả lời được câu hỏi đó, vật liệu truyền thống sẽ tự nhiên trở thành một phần của kiến trúc đương đại thay vì một lớp trang phục được khoác lên công trình.

PV: Qua những vùng văn hóa khác nhau của Việt Nam, điều gì theo ông là nguồn tài nguyên sáng tạo quan trọng nhất mà kiến trúc hiện đại cần tiếp tục nghiên cứu?

TS Phạm Minh Quân: Điều tôi quan tâm nhất không phải là mỗi vùng có một “kiểu nhà” như thế nào, mà là mỗi cộng đồng đã hình thành tri thức về không gian như thế nào để thích ứng với môi trường và tổ chức đời sống xã hội.

Mỗi vùng có những cách ứng xử riêng với khí hậu, địa hình, vật liệu và cảnh quan. Những khác biệt đó tạo nên một kho tri thức rất phong phú cho kiến trúc Việt Nam.

Nếu chỉ sao chép hình thức của nhà rường, nhà dài hay nhà cổ thì chúng ta mới kế thừa được “vỏ”. Điều cần nghiên cứu sâu hơn là tri thức đứng phía sau những hình thức ấy: Cách tổ chức không gian, cách sử dụng vật liệu, cách thích ứng với môi trường và cách kiến trúc phục vụ đời sống cộng đồng.

Đây chính là nguồn tài nguyên sáng tạo rất lớn cho kiến trúc Việt Nam trong tương lai, đặc biệt khi chúng ta đang phải đối mặt đồng thời với biến đổi khí hậu, đô thị hóa và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức sống.

PV: Kinh nghiệm của các quốc gia thành công trong việc bảo tồn bản sắc giữa quá trình hiện đại hóa cho thấy những bài học gì? Việt Nam có thể vận dụng ra sao?

TS Phạm Minh Quân: Một bài học quan trọng từ Nhật Bản, các nước Bắc Âu và một số quốc gia châu Âu là họ không đặt bảo tồn và hiện đại hóa vào hai phía đối lập. Họ tìm cách để di sản, vật liệu địa phương, kỹ thuật truyền thống và cảnh quan trở thành nguồn lực cho đời sống đương đại.

Naoshima của Nhật Bản là một ví dụ đáng chú ý. Ở đó, nghệ thuật đương đại, kiến trúc mới và cảnh quan được đặt trong cùng một chiến lược phát triển địa phương. Những công trình của Tadao Ando không sao chép kiến trúc truyền thống Nhật Bản, nhưng tạo ra sự đối thoại mạnh với địa hình, ánh sáng và cảnh quan của đảo.

Một ví dụ khác là kiến trúc Phần Lan, nơi vật liệu, ánh sáng tự nhiên, khí hậu và mối quan hệ với cảnh quan thường được tích hợp vào kiến trúc hiện đại. Bản sắc ở đây không phải một phong cách bắt buộc mà là nền tảng để sáng tạo.

Việt Nam có thể học từ nguyên tắc đó nhưng không nên sao chép mô hình quản lý. Chúng ta cần xây dựng những nguyên tắc chung về bản sắc, sau đó cho phép từng địa phương phát triển giải pháp phù hợp với điều kiện văn hóa, kinh tế và sinh thái của mình.

Mục tiêu cuối cùng không phải là bảo tồn một hình ảnh bất biến của Việt Nam, mà là tạo điều kiện để những giá trị văn hóa Việt Nam tiếp tục được sản sinh trong kiến trúc mới.

PV: Kiến trúc sư có vai trò và trách nhiệm như thế nào trong việc bảo vệ bản sắc trước sức ép của thị trường và xu hướng chạy theo những hình thức kiến trúc đang thịnh hành?

TS Phạm Minh Quân: Kiến trúc sư trước hết là người chịu trách nhiệm chuyên môn về chất lượng công trình nhưng trách nhiệm ấy không dừng ở phạm vi kỹ thuật. Kiến trúc tác động trực tiếp đến cảnh quan, đời sống cộng đồng và ký ức của một địa phương, vì vậy kiến trúc sư cũng có trách nhiệm văn hóa và xã hội.

Phẩm chất quan trọng của kiến trúc sư trong trường hợp này là năng lực phản biện nghề nghiệp. Chủ đầu tư có quyền đặt ra yêu cầu về công năng, ngân sách và hiệu quả đầu tư, nhưng kiến trúc sư phải có khả năng giải thích vì sao một giải pháp phù hợp với địa điểm có thể tạo ra giá trị lâu dài hơn một giải pháp chỉ chạy theo thị hiếu nhất thời.

Điều này đòi hỏi kiến trúc sư phải hiểu rộng hơn chuyên môn tạo hình. Nếu không hiểu lịch sử địa phương, văn hóa cộng đồng, kinh tế đô thị, môi trường và cảnh quan thì rất khó đưa ra những giải pháp có sức thuyết phục.

Tôi cũng không cho rằng nên đặt kiến trúc sư vào vị trí đối lập với thị trường. Bản sắc hoàn toàn có thể trở thành một lợi thế kinh tế. Một công trình có bản sắc có khả năng tạo thương hiệu cho một khu vực, nâng cao sức hấp dẫn du lịch, giá trị bất động sản và tạo ra những trải nghiệm mà công trình sao chép khó có được.

PV: Việt Nam cần hoàn thiện những chính sách, quy chuẩn, cơ chế đào tạo và hoạt động nghề nghiệp nào để bản sắc trở thành giá trị thực chất trong sáng tác kiến trúc đương đại?

TS Phạm Minh Quân: Điều quan trọng và then chốt nhất là phải chuyển bản sắc từ một khái niệm mang tính khẩu hiệu thành một tiêu chí có thể được nghiên cứu, đánh giá và tích hợp vào quá trình thiết kế.

Trước hết, trong quy hoạch và quản lý phát triển đô thị, cần xác định rõ những giá trị đặc trưng của từng địa phương, từ cấu trúc cảnh quan, di sản, vật liệu đến tri thức xây dựng bản địa. Trên cơ sở đó có thể xây dựng các hướng dẫn thiết kế phù hợp với từng vùng. Đây không phải là việc quy định kiến trúc sư phải thiết kế theo một kiểu mẫu, mà là cung cấp dữ liệu văn hóa và môi trường để sáng tạo.

Thứ hai, cần thay đổi cách đào tạo kiến trúc. Sinh viên không nên chỉ được học về hình khối, công năng và kỹ thuật mà cần được tiếp cận nhiều hơn với lịch sử, nhân học, địa lý văn hóa, sinh thái học và nghiên cứu điền dã. Một kiến trúc sư tương lai phải biết đọc một địa điểm trước khi bắt đầu vẽ một công trình.

Thứ ba, cần tạo ra những cơ chế nghề nghiệp khuyến khích sáng tạo có trách nhiệm, chẳng hạn các cuộc thi kiến trúc, giải thưởng, quỹ nghiên cứu và cơ chế đặt hàng công trình công cộng có tiêu chí rõ về giá trị văn hóa và môi trường.

Cuối cùng, tôi cho rằng chúng ta cần thay đổi cách nhìn về bản sắc. Bản sắc không phải là một thứ phải giữ nguyên, mà là một năng lực phải được tiếp tục sáng tạo. Một nền kiến trúc chỉ thực sự có sức sống khi mỗi thế hệ đều có khả năng nói bằng ngôn ngữ của thời đại mình nhưng vẫn khiến người ta nhận ra họ đang đứng ở đâu, đang sống trong nền văn hóa nào và đang tiếp nối câu chuyện của cộng đồng nào.

Nếu làm được điều đó, bản sắc sẽ không còn là một lớp trang trí đặt lên kiến trúc hiện đại. Nó sẽ trở thành một trong những nền tảng để kiến trúc Việt Nam tạo ra giá trị riêng và tham gia bình đẳng vào cuộc đối thoại kiến trúc toàn cầu.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Kỳ 3: Kiến tạo không gian văn hóa – giữ bản sắc đô thị, bồi đắp hồn quê

TỪ KHÓA #kiế trúc #văn hóa #TS Phạm Minh Quân
Tin cùng chuyên mục