11:24 25/08/2026 GMT+7

Khi bản sắc kiến trúc cần một hành lang pháp lý mới

Trong quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng, kiến trúc Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý. Một mặt, tốc độ xây dựng ngày càng nhanh, công nghệ ngày càng hiện đại, nhiều công trình có chất lượng và dấu ấn riêng. Mặt khác, tại không ít nơi, diện mạo đô thị và nông thôn có xu hướng trở nên tương đồng. Những đặc trưng về cảnh quan, vật liệu, không gian cộng đồng và cách tổ chức đời sống vốn tạo nên sự khác biệt giữa các vùng đất có nguy cơ bị lấn át bởi những mô hình phát triển giống nhau. Ở nông thôn và miền núi, vấn đề còn rõ hơn khi quá trình bê tông hóa có thể làm biến đổi cấu trúc bản làng, nhà ở và không gian sinh hoạt truyền thống.

PGS. TS. Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam, gọi yêu cầu bảo vệ bản sắc trước quá trình này bằng một khái niệm đáng chú ý “kháng thể văn hóa”. Theo cách tiếp cận này, sức đề kháng của cộng đồng không phải là đóng cửa trước cái mới, mà là khả năng tiếp nhận những yếu tố hiện đại trên nền tảng truyền thống, để thay đổi mà không đánh mất mình. Đây cũng là một trong những vấn đề đặt ra đối với quá trình sửa đổi Luật Kiến trúc hiện nay.

Luật Kiến trúc (sửa đổi) đã làm rõ hơn nhiệm vụ quản lý kiến trúc của địa phương, nâng cao chất lượng không gian và cảnh quan đô thị, nông thôn, quản lý công trình kiến trúc có giá trị. Đáng chú ý, Luật được đặt trong mối liên hệ với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hóa vùng miền. Đây là sự chuyển động quan trọng. Bởi nếu trước đây bản sắc thường được nói đến như một yêu cầu về thẩm mỹ hoặc định hướng nghề nghiệp thì nay vấn đề đặt ra là làm thế nào để bản sắc trở thành một nội dung có thể nhận diện, quản lý và bảo vệ trong quá trình quy hoạch, thiết kế, đầu tư và xây dựng.

Bản sắc văn hóa trong kiến trúc Việt: Từ kế thừa đến sáng tạo

TS.KTS Nguyễn Tất Thắng, chuyên gia cao cấp Viện Kiến trúc Quốc gia, Bản sắc văn hóa và di sản kiến trúc Việt Nam trong phát triển và hội nhập

Kiến trúc là một thành tố của văn hóa, kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần qua nhiều thế hệ. Trong phát triển và hội nhập, gìn giữ di sản cần gắn với tiếp nối truyền thống, nuôi dưỡng sáng tạo và đáp ứng nhu cầu đương đại.

Di sản kiến trúc và bản sắc văn hóa có mối quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất. Không phải mọi công trình được công nhận là di sản đều đại diện đầy đủ cho bản sắc; ngược lại, nhiều giá trị làm nên bản sắc chưa chắc đã được xác lập là di sản. Vì vậy, tuyệt đối hóa bản sắc dễ dẫn đến cách tiếp cận khiên cưỡng, phiến diện, hạn chế đổi mới.

Những tinh hoa văn hóa, kiến trúc Việt Nam được chắt lọc qua lịch sử, hội tụ ở ba đặc điểm: giá trị tương đối ổn định, tính cộng đồng và khả năng lưu truyền. Các giá trị ấy vừa thể hiện sự thống nhất của văn hóa dân tộc, vừa phản ánh sắc thái đa dạng của từng địa phương, vùng miền và cộng đồng.

Tuy nhiên, truyền thống không bất biến. Qua tiếp nối, giao lưu và chọn lọc, những giá trị phù hợp được gìn giữ, bồi đắp; những yếu tố không còn thích ứng dần được điều chỉnh. Bản sắc vì thế không chỉ nằm trong quá khứ mà còn được tạo dựng trong đời sống.

Phát triển kiến trúc Việt Nam cần hướng tới sự dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, bảo tồn và sáng tạo. Đó là quá trình chuyển hóa tinh hoa văn hóa thành những không gian sống phù hợp, để kiến trúc vừa giữ chiều sâu lịch sử, vừa hội nhập.

GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính, nguyên Ủy viên Hội đồng di sản văn hóa Quốc gia, nguyên Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam nhấn mạnh rằng kiến trúc không chỉ là vật thể mà còn chứa đựng ký ức và đời sống tinh thần của cộng đồng. Một công trình có thể được tu bổ hoàn chỉnh về kết cấu, mái, tường, hoa văn, nhưng nếu mất đi không gian văn hóa, tập quán và những câu chuyện gắn với nó thì giá trị của di sản cũng bị suy giảm. Từ góc nhìn này, câu chuyện của Kỳ 5 không còn đơn thuần là bảo tồn công trình mà là tạo ra cơ chế để những giá trị văn hóa tiếp tục được chuyển hóa thành kiến trúc của thời đại mới.

Từ “bảo tồn” sang “kiến tạo”

Nếu Kỳ 4 tập trung trả lời câu hỏi di sản có thể trở thành nguồn lực phát triển như thế nào, thì Kỳ 5 cần trả lời câu hỏi cơ chế nào để tạo ra những công trình mới vừa hiện đại vừa có bản sắc? Muốn vậy, không thể chỉ trông chờ vào tài năng cá nhân của kiến trúc sư.

KTS Chu Kim Đức, đồng sáng lập và Giám đốc điều hành Think Playgrounds, nhìn nhận kiến trúc sư trong quá trình kiến tạo không gian văn hóa mới cần trở thành người kết nối giữa cộng đồng, môi trường, xã hội và thiết kế. Kiến trúc sư không chỉ chuyển một yêu cầu đầu tư thành bản vẽ, mà cần tham gia vào quá trình xác định nhu cầu, lắng nghe cộng đồng và chuyển hóa câu chuyện địa phương thành ngôn ngữ kiến trúc. Điều đó đòi hỏi kiến trúc sư phải được tham gia từ sớm hơn.

Nếu mọi quyết định về quy mô, mật độ, chức năng, tài chính đã được xác định trước khi kiến trúc sư xuất hiện, thì không gian sáng tạo dành cho kiến trúc sẽ bị thu hẹp. Bởi vậy, thi tuyển kiến trúc, phản biện chuyên môn và sự tham gia của giới nghề nghiệp cần được coi là những công cụ nâng cao chất lượng phát triển, thay vì chỉ là thủ tục.

Cùng với đó là sự thay đổi trong đào tạo. Kiến trúc sư tương lai không thể chỉ giỏi phần mềm, kỹ thuật và hình thức. Họ cần hiểu lịch sử, văn hóa, xã hội học, môi trường, kinh tế và công nghệ. Muốn tạo ra kiến trúc phù hợp với Việt Nam, trước hết phải hiểu người Việt Nam và hiểu từng vùng đất.

Nhà nước không làm thay thị trường, nhưng phải tạo luật chơi. Kiến trúc là kết quả của nhiều chủ thể. Nếu Nhà nước ban hành chính sách, kiến trúc sư thiết kế, doanh nghiệp đầu tư nhưng cộng đồng bị đứng ngoài thì rất khó tạo ra những không gian sống thực sự phù hợp.

Ông Nguyễn Xuân Thủy, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Kiến trúc - Xây dựng - Nội thất Hà Nội, nhấn mạnh vai trò kết nối của hội nghề nghiệp giữa cơ quan quản lý, giới chuyên môn, doanh nghiệp và cộng đồng. Ở đây, vai trò của hội nghề nghiệp không chỉ là tổ chức các giải thưởng hay hoạt động chuyên môn. Hội có thể trở thành kênh phản biện chính sách, tập hợp những vấn đề phát sinh trong thực tiễn hành nghề, kết nối đào tạo với thị trường và lan tỏa những mô hình kiến trúc tốt.

Quan trọng hơn, cần xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Nhà nước kiến tạo chính sách; giới chuyên môn bảo đảm chất lượng; doanh nghiệp tạo nguồn lực; cộng đồng cung cấp tri thức bản địa và giám sát không gian sống.

PGS. TS. Trần Hữu Sơn cũng đề xuất cách tiếp cận phối hợp nhiều chủ thể, trong đó nhà quản lý, nhà khoa học, nhà thiết kế/chủ đầu tư và cộng đồng cùng tham gia vào quá trình bảo tồn và phát triển kiến trúc bản địa. Cách tiếp cận này đặc biệt cần thiết đối với các bản làng vùng cao, nơi chính quyền địa phương có thể không đủ chuyên môn sâu về kiến trúc của từng dân tộc. Trong trường hợp đó, tri thức của nghệ nhân, già làng, trưởng bản và người có uy tín trở thành nguồn dữ liệu quan trọng cho quá trình thiết kế và quản lý.

Từ người đầu tư thành người kiến tạo giá trị

Một nền kiến trúc giàu bản sắc không thể phát triển nếu thiếu nguồn lực của thị trường. Ông Lê Công Năng, Chủ tịch HĐQT WonderTour, nhìn nhận công trình có chất lượng kiến trúc, hài hòa với cảnh quan và phản ánh đặc trưng địa phương có thể tạo ra giá trị thương hiệu lâu dài cho doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, những dự án như vậy thường đòi hỏi thời gian nghiên cứu lâu hơn, chi phí ban đầu cao hơn và sự tham gia của nhiều chuyên gia.

Nếu cơ chế quản lý thiếu rõ ràng, thủ tục kéo dài và lợi ích của việc đầu tư vào chất lượng kiến trúc chưa được nhìn nhận đầy đủ, doanh nghiệp sẽ khó có động lực đi theo hướng này. Do đó, cần nghiên cứu các chính sách khuyến khích phù hợp đối với những dự án đáp ứng tiêu chí về kiến trúc xanh, bảo tồn di sản, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, tạo lập không gian công cộng và đóng góp cho văn hóa địa phương.

Nhưng ưu đãi cũng phải đi cùng hậu kiểm. Không thể để “xanh”, “bản sắc”, “văn hóa” trở thành những nhãn hiệu phục vụ quảng bá dự án. Giá trị phải được chứng minh bằng chính chất lượng công trình, hiệu quả sử dụng, khả năng đóng góp cho cộng đồng và sức sống lâu dài của không gian.

Bản sắc phải tạo ra lợi ích thì mới có thể tự bảo vệ

Một trong những luận điểm đáng chú ý từ PGS. TS. Trần Hữu Sơn là muốn người dân tự giác bảo vệ bản sắc, họ phải nhìn thấy lợi ích thực chất từ việc bảo tồn. Ông dẫn trường hợp làng Choản Thèn, xã Y Tý, nơi việc hỗ trợ bảo tồn những ngôi nhà trình tường truyền thống dần tạo ra nhận thức mới. Khi người dân nhận thấy kiến trúc truyền thống có thể thu hút khách du lịch, tạo sinh kế và tăng thu nhập, việc gìn giữ không còn là nhiệm vụ áp đặt từ bên ngoài mà trở thành lựa chọn của chính cộng đồng.

Bản sắc sẽ khó tồn tại nếu chỉ được bảo vệ bằng mệnh lệnh hành chính. Một ngôi nhà truyền thống mà người dân không đủ khả năng sửa chữa; một nghề thủ công không tạo ra thu nhập; một không gian cộng đồng chỉ được giữ lại nhưng không còn chức năng trong đời sống sẽ rất khó tồn tại lâu dài. Vì vậy, bảo vệ bản sắc phải đồng thời tạo ra sinh kế và chất lượng sống.

Cần một “ngân hàng” tri thức cho kiến trúc Việt Nam

TS Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam đề xuất cần hình thành một hệ sinh thái kiến trúc trong đó văn hóa, dữ liệu, công nghệ, đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng được kết nối. Một đề xuất đáng chú ý là xây dựng “ngân hàng dữ liệu kiến trúc Việt Nam”, tích hợp thông tin về công trình tiêu biểu, di sản, vật liệu địa phương, làng nghề, kỹ thuật xây dựng truyền thống, cảnh quan và đặc điểm văn hóa của từng vùng. Nếu được xây dựng bài bản, đây sẽ không chỉ là công cụ quản lý mà còn là “kho nguyên liệu” cho sáng tạo.

Công nghệ BIM, GIS hay AI có thể giúp kiến trúc sư phân tích dữ liệu, mô phỏng và tối ưu thiết kế. Nhưng công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi phía sau nó là tri thức về vùng đất. Một hệ thống AI có thể tạo ra hàng nghìn phương án hình thức, nhưng không thể tự thay thế tri thức cộng đồng về cách một ngôi nhà ứng xử với gió, nắng, nước, cây cối, phong tục hay không gian sinh hoạt. Công nghệ có thể giúp kiến trúc nhanh hơn; tri thức bản địa giúp kiến trúc đúng nơi chốn hơn.

Nghị quyết 80 mở ra một cách nhìn mới về kiến trúc

Nghị quyết 80-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 7/1/2026 xác định văn hóa Việt Nam là kết tinh các giá trị của dân tộc và là nguồn lực nội sinh quan trọng.  Tinh thần này tạo ra một nền tảng chính trị - tư tưởng quan trọng để nhìn nhận lại vai trò của kiến trúc. Kiến trúc không chỉ tạo ra nơi ở, nơi làm việc hay công trình công cộng. Kiến trúc góp phần tạo nên hình ảnh của địa phương, hình thành môi trường văn hóa, lưu giữ ký ức và thậm chí tạo ra giá trị kinh tế. Bởi vậy, việc sửa đổi Luật Kiến trúc trong thời điểm hiện nay có thể được xem như một bước cụ thể hóa yêu cầu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển.

Bộ Xây dựng cũng đã xác định việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiến trúc là một nội dung đang được tập trung, trong đó đặc biệt vừa qua Quốc hội đã thông qua Luật Kiến trúc (sửa đổi). Vấn đề quan trọng nhất vì thế không chỉ là Luật sửa những điều gì mà sau khi luật được hoàn thiện, các quy định đó có tạo ra thay đổi thực chất trong không gian sống hay không. Đó là câu chuyện của quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc, chất lượng đội ngũ thực thi, nguồn lực địa phương, trách nhiệm của chủ đầu tư và sự tham gia của người dân.

Từ “kháng thể văn hóa” đến năng lực cạnh tranh của kiến trúc Việt

Nếu nhìn rộng hơn, “kháng thể văn hóa” không chỉ nhằm chống lại bê tông hóa hay sự đồng nhất về hình thức mà phải trở thành năng lực sáng tạo. Một Việt Nam hiện đại không nhất thiết phải có những công trình giống Singapore, Seoul, Tokyo hay bất kỳ đô thị nào khác. Ngược lại, sức hấp dẫn của kiến trúc Việt Nam trong hội nhập nằm ở khả năng tạo ra những công trình hiện đại nhưng được sinh ra từ khí hậu, cảnh quan, vật liệu, lịch sử và văn hóa Việt Nam. Đó cũng là con đường để kiến trúc tham gia vào công nghiệp văn hóa.

Vật liệu địa phương có thể trở thành sản phẩm mới. Nghề thủ công có thể bước vào thiết kế đương đại. Không gian làng có thể trở thành điểm đến văn hóa. Kiến trúc truyền thống có thể cung cấp cảm hứng cho công trình hiện đại. Công nghệ số có thể giúp lưu trữ, nghiên cứu và quảng bá những giá trị ấy ra thế giới. Khi đó, bản sắc không còn là giới hạn của phát triển mà trở thành lợi thế của phát triển. Đây chính là điểm cần hướng tới trong quá trình hoàn thiện thể chế kiến trúc hiện nay.

Luật pháp cần tạo ra “khung”; chuyên gia cung cấp tri thức; kiến trúc sư tạo ra sáng tạo; doanh nghiệp cung cấp nguồn lực; công nghệ mở rộng khả năng; cộng đồng bảo vệ và tiếp tục làm giàu những giá trị của nơi chốn. Một nền kiến trúc có bản sắc không phải nền kiến trúc chỉ biết giữ lại những gì đã có. Đó là nền kiến trúc đủ hiểu quá khứ để sáng tạo hiện tại và đủ bản lĩnh để tạo ra tương lai.

Trong bối cảnh Luật Kiến trúc (sửa đổi) vừa được thông qua, đây chính là thời điểm để chuyển từ tư duy “quản lý để không mất bản sắc” sang tư duy “kiến tạo để bản sắc trở thành nguồn lực phát triển”. Và nếu làm được điều đó, “kháng thể văn hóa” sẽ không chỉ giúp các bản làng đứng vững trước bê tông hóa, mà còn giúp kiến trúc Việt Nam có tiếng nói riêng trong quá trình hội nhập.

TỪ KHÓA #Khơi thông thể chế #tạo “kháng thể văn hóa” cho kiến trúc Việt
Tin cùng chuyên mục