23:13 20/07/2026 GMT+7

Buổi sớm ở xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai, mây vẫn phủ kín những triền núi. Con đường bê tông nhỏ ngoằn ngoèo ôm theo sườn dốc, lúc khuất dưới tán rừng, lúc hiện ra bên những thửa ruộng bậc thang. Từ trung tâm xã đến một số thôn, bản, quãng đường trên bản đồ chỉ vài chục kilômét, nhưng người dân có khi phải mất hàng giờ di chuyển bởi dốc cao, khúc cua gấp và nguy cơ sạt lở sau mưa lớn.

Ở nơi địa đầu Tổ quốc, khoảng cách không chỉ được đo bằng chiều dài con đường mà còn bằng thời gian, địa hình, thời tiết và sự nhọc nhằn của những bước chân trẻ nhỏ. Với nhiều học sinh người Mông, Dao, Hà Nhì, Giáy và các dân tộc thiểu số khác, đến trường mỗi ngày là một hành trình vượt qua nhiều trở ngại để tìm đến con chữ.

Có em phải thức dậy từ bốn, năm giờ sáng, mang theo chiếc cặp đã cũ, đi qua những con dốc trơn trượt để kịp giờ học. Mùa đông, sương mù dày đặc, nhiệt độ xuống thấp; mùa mưa, nước suối dâng cao, đất đá sạt xuống đường, một số tuyến giao thông bị chia cắt. Hành trình đến lớp vì thế trở thành thử thách đối với cả học sinh và giáo viên.

Con đường đến lớp của học sinh vùng cao còn nhiều gian nan, nhất là trong những ngày mưa lũ, rét đậm và sương mù bao phủ.

Phía sau mỗi ngày đến trường là nỗi lo của gia đình, sự bền bỉ của người thầy và khát vọng học tập của trẻ em vùng cao. Tuy nhiên, nỗ lực của từng cá nhân chưa thể bù đắp những thiếu hụt kéo dài về giao thông, trường lớp, chỗ ăn, chỗ ở và các điều kiện sinh hoạt thiết yếu.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Phó Chủ tịch UBND xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai – cho biết, cùng với việc rà soát mạng lưới trường, lớp sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, địa phương đang đôn đốc chủ đầu tư và các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ cải tạo trụ sở UBND xã Phìn Ngan cũ thành trường học. Trước mắt, xã tập trung hoàn thành những hạng mục thiết yếu, bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy và học trong năm học mới.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Phó Chủ tịch UBND xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Hiện trên địa bàn có 15 trường học và một trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 3 trường trung học phổ thông, một trường phổ thông dân tộc nội trú và 2 trường liên cấp. Tuy nhiên, do địa bàn rộng, dân cư phân bố không tập trung, nhiều thôn, bản nằm xa trung tâm nên mạng lưới hiện có vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập, ăn ở và sinh hoạt của học sinh.

Đối với con em đồng bào Dao, Giáy và các dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực biên giới, quãng đường từ nhà đến trường vẫn là một trong những trở ngại lớn. Khoảng cách ấy không chỉ ảnh hưởng đến thời gian học tập, sức khỏe và sự an toàn của học sinh mà còn tác động trực tiếp đến việc duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục.

Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, đầu tư cho trường học ở khu vực biên giới chính là đầu tư cho sự ổn định và phát triển lâu dài của địa phương. Khi được bảo đảm điều kiện học tập, ăn ở và sinh hoạt, học sinh có thêm cơ hội duy trì việc học; tình trạng nghỉ học hoặc gián đoạn học tập từng bước được hạn chế. Qua đó, dân trí được nâng cao, nguồn nhân lực tại chỗ được bồi dưỡng và chất lượng cuộc sống của người dân dần được cải thiện.

“Xây dựng hệ thống trường học tại khu vực biên giới không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt về cơ sở vật chất và đi lại. Về lâu dài, đây còn là nền tảng để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, gìn giữ bản sắc văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc. Khi trẻ em vùng cao được học tập, trưởng thành và có cơ hội trở về đóng góp cho quê hương, mỗi mái trường sẽ trở thành một điểm tựa giữ dân, giữ bản, góp phần bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc”, bà Nguyễn Thị Ngọc Anh nhấn mạnh.

Ý tưởng kiến trúc Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Bản Vược, xã Bát Xát, Lào Cai với hai module chính gồm phòng học và khu nội trú, được tổ chức hài hòa, thích ứng với địa hình miền núi.

Câu chuyện tại Bát Xát cũng phản ánh thực trạng chung của nhiều xã biên giới thuộc Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Tuyên Quang, Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc. Địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, hạ tầng chưa đồng bộ và nguồn lực đầu tư còn hạn chế khiến việc bảo đảm quyền học tập cho trẻ em luôn là bài toán nhiều trăn trở.

Nếu chỉ nhìn vào số lượng trường, lớp hoặc tỷ lệ huy động học sinh đến trường, khó thấy hết những trở ngại của giáo dục vùng cao. Phía sau mỗi con số là những tuyến đường khó khăn, những gia đình còn thiếu thốn, những giáo viên kiên trì bám trường, bám bản và những học sinh phải nỗ lực gấp nhiều lần để duy trì việc học.

 Rời Bát Xát, chúng tôi tiếp tục hành trình đến xã Dào San, tỉnh Lai Châu. Con đường quanh co men theo sườn núi, mây trắng phủ kín những triền đồi. Giữa không gian ấy, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Dào San vẫn ngày ngày bám địa bàn, bám dân. Họ không chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới mà còn trở thành điểm tựa của đồng bào trong phát triển sinh kế và giữ gìn con chữ cho trẻ em.

Đồn Biên phòng Dào San quản lý địa bàn gồm 28 bản với gần 2.901 hộ dân. Hơn 82,5% dân số là đồng bào Mông, còn lại là các dân tộc Dao, Hà Nhì và một số dân tộc khác. Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, giao thông cách trở; tình hình tội phạm về ma túy, mua bán người và xuất nhập cảnh trái phép vẫn tiềm ẩn diễn biến phức tạp.

Trong điều kiện đó, xây dựng “thế trận lòng dân” được đơn vị xác định là nhiệm vụ chiến lược và lâu dài. Đường biên chỉ thực sự vững chắc khi người dân có cuộc sống ổn định, yên tâm bám bản, gắn bó với quê hương và chủ động tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới.

Thiếu tá Sùng A Hùng, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Dào San trao học bổng và cặp sách cho các em học sinh thuộc chương trình “Nâng bước em tới trường”.

Thiếu tá Sùng A Hùng, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Dào San, chia sẻ: "Muốn giữ vững biên giới thì trước hết phải giúp người dân ổn định cuộc sống. Khi bà con có nhà ở kiên cố, có sinh kế, con em được đến trường đầy đủ thì người dân sẽ yên tâm bám bản, gắn bó với quê hương và cùng bộ đội giữ gìn đường biên, cột mốc. Vì vậy, xóa nhà tạm, hỗ trợ phát triển kinh tế và chăm lo giáo dục đều là những nhiệm vụ trực tiếp góp phần xây dựng thế trận lòng dân."

Quan điểm ấy được cụ thể hóa bằng nhiều việc làm thiết thực. Hưởng ứng phong trào xóa nhà tạm, nhà dột nát, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Dào San đã huy động 343 ngày công tham gia xây dựng 92 căn nhà cho các hộ nghèo. Nhiều công trình nằm trên sườn núi cao, xe cơ giới không thể tiếp cận, từng bao xi măng, viên gạch phải gùi bộ qua nhiều con dốc. Cùng với đó, cán bộ, chiến sĩ còn tự nguyện trích lương, quyên góp gần 19 triệu đồng mua chăn, màn, giường và nhiều vật dụng thiết yếu trao tặng các hộ dân.

Không chỉ giúp người dân có nơi ở ổn định, đơn vị còn triển khai các mô hình sinh kế như nuôi vịt ở bản Lùng Than, nuôi dê sinh sản tại bản Lèng Chư, góp phần giúp nhiều hộ gia đình từng bước thoát nghèo. Gia đình ông Lừu A Thông, ở bản Lèng Chư, từ số vốn hỗ trợ ban đầu đã phát triển đàn dê từ hai con lên gần mười con, có thêm nguồn thu nhập để tiếp tục chăn nuôi lợn, gà và chăm lo cho con cháu học hành.

Nắm chặt tay Thiếu tá Sùng A Hùng khi chúng tôi đến thăm, ông Lừu A Thông xúc động nói: "Nếu không có các chú bộ đội hướng dẫn, giúp vốn và động viên thì gia đình tôi khó có được cuộc sống như hôm nay. Bây giờ có cái ăn, có cái mặc, con cháu cũng được đến trường đầy đủ hơn."

Nhưng với những người lính biên phòng Dào San, giúp dân phát triển kinh tế mới chỉ là một phần nhiệm vụ. Điều họ luôn đau đáu là làm sao để không một đứa trẻ nào phải rời lớp học vì nghèo khó.

Nhiều năm qua, chương trình "Nâng bước em tới trường" và "Con nuôi Đồn Biên phòng" đã trở thành điểm sáng trong công tác dân vận của đơn vị. Năm 2025, Đồn Biên phòng Dào San tiếp tục trực tiếp đỡ đầu hai học sinh với mức hỗ trợ 500.000 đồng mỗi em mỗi tháng từ chính tiền lương của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời chăm lo cho 30 học sinh thuộc Dự án "Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nâng bước em tới trường".

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Dào San đồng hành, hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn thông qua các chương trình “Nâng bước em tới trường” và “Con nuôi Đồn Biên phòng”.

Theo chân Thiếu tá Hoàng Văn Lịch, chúng tôi đến Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Dào San. Trong lớp học giữa núi rừng, những ánh mắt trẻ thơ bừng sáng khi nhắc đến các chú bộ đội.

Em Lý Chin Khánh, học sinh lớp 5, bẽn lẽn nói: "Nhà em nghèo lắm. Mùa đông ở đây rét nên có lúc em muốn nghỉ học. Từ ngày được các chú bộ đội cho áo ấm, sách vở và thường xuyên lên trường động viên, em cố gắng học hơn. Sau này em muốn làm bộ đội để giúp bà con như các chú."

Ngồi cạnh Khánh, em Lý Minh Ngọc, học sinh lớp 3A2, ôm chiếc cặp mới được trao tặng, mỉm cười:"Các chú bộ đội như người thân trong gia đình. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để không phụ lòng các chú và các thầy cô."

Theo cô Phạm Thị Xuân, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Dào San, nhiều học sinh của trường có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bố mất, mẹ đi làm ăn xa hoặc các em phải sống cùng ông bà già yếu.

"Nếu không có sự đồng hành của bộ đội biên phòng thì việc duy trì sĩ số sẽ vất vả hơn rất nhiều. Các anh không chỉ hỗ trợ học bổng mà còn thường xuyên vào tận bản vận động phụ huynh, mang áo ấm, sách vở, xe đạp cho học sinh. Có những hôm mưa lũ, nước suối dâng cao, các anh cõng từng cháu qua suối để đến trường. Với nhà trường, đó là sự hỗ trợ không thể thay thế."

Những câu chuyện ở Dào San cho thấy, để giữ một đứa trẻ ở lại với trường lớp không chỉ cần nỗ lực của gia đình và nhà trường, mà còn đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Bộ đội biên phòng, chính quyền địa phương, thầy cô giáo và cộng đồng đang cùng nhau tạo dựng điểm tựa, nâng đỡ những ước mơ nhỏ bé giữa đại ngàn.

Bởi vậy, con đường đến trường của trẻ em vùng biên không chỉ là hành trình vượt núi, qua suối, mà còn là hành trình vượt qua đói nghèo, những rào cản về nhận thức và một số tập quán đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Điều đáng trân trọng là giữa muôn vàn khó khăn, khát vọng học tập vẫn luôn hiện hữu. Nhiều em kiên trì bám trường, bám lớp với niềm tin rằng tri thức có thể mở ra cơ hội thay đổi cuộc sống của bản thân, gia đình và bản làng.

Tuy nhiên, những suất học bổng, chiếc áo ấm hay sự đồng hành của các lực lượng nơi biên giới mới chỉ góp phần giải quyết những khó khăn trước mắt. Để trẻ em vùng cao được học tập ổn định, an toàn và lâu dài, cần những giải pháp căn cơ, đồng bộ hơn. Trong đó, việc đầu tư xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, với đầy đủ khu học tập, ký túc xá, nhà ăn, thư viện, không gian sinh hoạt chung cùng các hạ tầng thiết yếu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Ở những địa bàn mà khoảng cách đến trường được tính bằng nhiều giờ đi bộ thay vì kilômét, một ngôi trường nội trú không chỉ rút ngắn hành trình tới lớp, mà còn tạo dựng môi trường để học sinh được học tập, chăm sóc và phát triển toàn diện. Mỗi ngôi trường đồng thời là một thiết chế xã hội gắn kết gia đình, nhà trường và cộng đồng; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và tạo động lực phát triển bền vững cho địa phương.

Vì thế, đầu tư xây dựng hệ thống trường nội trú tại các xã biên giới không đơn thuần là giải quyết bài toán cơ sở vật chất giáo dục, mà là một chủ trương mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Những mái trường ấy góp phần bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng cho trẻ em vùng cao, thu hẹp khoảng cách phát triển, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nơi phên dậu Tổ quốc.

Kỳ 2: MÁI NHÀ CHUNG GIỮA ĐẠI NGÀN

TỪ KHÓA #TỪ NHỮNG BẢN LÀNG XA NGÁI #DỰNG TRƯỜNG NƠI BIÊN CƯƠNG #XÂY NỀN ĐẠI ĐOÀN KẾT #NHỮNG MÁI NHÀ CHUNG
Tin cùng chuyên mục