THẮP SÁNG TƯƠNG LAI NƠI PHÊN DẬU TỔ QUỐC 

CON ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG DÀI HƠN NHỮNG CON SỐ
Buổi sớm ở xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai, mây vẫn còn phủ kín những triền núi. Con đường bê tông nhỏ ngoằn ngoèo ôm theo sườn núi, lúc khuất dưới tán rừng già, lúc hiện ra bên những thửa ruộng bậc thang xanh mướt. Từ trung tâm xã đến nhiều thôn, bản chỉ vài chục kilômét nhưng có khi phải mất hàng giờ di chuyển bởi những con dốc dựng đứng, khúc cua gấp và các điểm sạt lở sau mỗi trận mưa.
Ở nơi địa đầu Tổ quốc, khoảng cách không được đo bằng kilômét mà bằng thời gian, địa hình và sự nhọc nhằn. Với nhiều học sinh người Mông, Dao, Hà Nhì hay Giáy, hành trình đến trường mỗi ngày không đơn thuần là việc đi học, mà là hành trình vượt núi để chạm tới con chữ.
Có những em phải thức dậy từ bốn, năm giờ sáng, mang theo chiếc cặp đã cũ, băng qua suối, vượt những con dốc trơn trượt để kịp giờ học. Mùa đông, sương mù dày đặc, nhiệt độ xuống thấp, đôi bàn tay tím tái vì giá rét vẫn bám chặt quai cặp. Mùa mưa, nước suối dâng cao, nhiều tuyến đường bị chia cắt, việc đến trường trở thành thử thách đối với cả học sinh và giáo viên.
Khó khăn ấy không chỉ hiện hữu ở Bát Xát mà còn là bức tranh chung của nhiều xã biên giới thuộc Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Tuyên Quang, Cao Bằng…. Địa hình chia cắt mạnh, các điểm dân cư nằm rải rác trên núi cao khiến việc bảo đảm quyền học tập cho trẻ em luôn là bài toán nhiều trăn trở.
Rời Bát Xát, chúng tôi tiếp tục hành trình đến xã Dào San, tỉnh Lai Châu. Con đường vẫn quanh co men theo sườn núi, mây trắng phủ kín những triền đồi, gió lạnh hun hút từ các khe núi khiến bước chân càng thêm nặng nhọc. Giữa không gian ấy, những người lính quân hàm xanh của Đồn Biên phòng Dào San vẫn ngày ngày bám bản, bám dân, không chỉ bảo vệ chủ quyền biên giới mà còn trở thành điểm tựa của đồng bào trên hành trình vượt qua đói nghèo và giữ gìn con chữ cho trẻ em vùng cao.
Đồn Biên phòng Dào San quản lý 28 bản với gần 2.901 hộ dân, hơn 82,5% là đồng bào dân tộc Mông, còn lại là các dân tộc Dao, Hà Nhì... Đời sống người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, giao thông cách trở, trong khi tình hình tội phạm ma túy, mua bán người và xuất nhập cảnh trái phép vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp. Trong điều kiện ấy, xây dựng "thế trận lòng dân" được đơn vị xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược.
Thiếu tá Sùng A Hùng, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Dào San, chia sẻ: "Muốn giữ vững biên giới thì trước hết phải giúp người dân ổn định cuộc sống. Khi bà con có nhà ở kiên cố, có sinh kế, con em được đến trường đầy đủ thì người dân sẽ yên tâm bám bản, gắn bó với quê hương và cùng bộ đội giữ gìn đường biên, cột mốc. Vì vậy, xóa nhà tạm, hỗ trợ phát triển kinh tế và chăm lo giáo dục đều là những nhiệm vụ trực tiếp góp phần xây dựng thế trận lòng dân."

Thiếu tá Sùng A Hùng, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Dào San trao học bổng và cặp sách cho các em học sinh thuộc chương trình “Nâng bước em tới trường”.
Quan điểm ấy được cụ thể hóa bằng nhiều việc làm thiết thực. Hưởng ứng phong trào xóa nhà tạm, nhà dột nát, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Dào San đã huy động 343 ngày công tham gia xây dựng 92 căn nhà cho các hộ nghèo. Nhiều công trình nằm trên sườn núi cao, xe cơ giới không thể tiếp cận, từng bao xi măng, viên gạch phải gùi bộ qua nhiều con dốc. Cùng với đó, cán bộ, chiến sĩ còn tự nguyện trích lương, quyên góp gần 19 triệu đồng mua chăn, màn, giường và nhiều vật dụng thiết yếu trao tặng các hộ dân.
Không chỉ giúp người dân có nơi ở ổn định, đơn vị còn triển khai các mô hình sinh kế như nuôi vịt ở bản Lùng Than, nuôi dê sinh sản tại bản Lèng Chư, góp phần giúp nhiều hộ gia đình từng bước thoát nghèo. Gia đình ông Lừu A Thông, ở bản Lèng Chư, từ số vốn hỗ trợ ban đầu đã phát triển đàn dê từ hai con lên gần mười con, có thêm nguồn thu nhập để tiếp tục chăn nuôi lợn, gà và chăm lo cho con cháu học hành.
Nắm chặt tay Thiếu tá Sùng A Hùng khi chúng tôi đến thăm, ông Lừu A Thông xúc động nói: "Nếu không có các chú bộ đội hướng dẫn, giúp vốn và động viên thì gia đình tôi khó có được cuộc sống như hôm nay. Bây giờ có cái ăn, có cái mặc, con cháu cũng được đến trường đầy đủ hơn."
Nhưng với những người lính biên phòng Dào San, giúp dân phát triển kinh tế mới chỉ là một phần nhiệm vụ. Điều họ luôn đau đáu là làm sao để không một đứa trẻ nào phải rời lớp học vì nghèo khó.
Nhiều năm qua, chương trình "Nâng bước em tới trường" và "Con nuôi Đồn Biên phòng" đã trở thành điểm sáng trong công tác dân vận của đơn vị. Năm 2025, Đồn Biên phòng Dào San tiếp tục trực tiếp đỡ đầu hai học sinh với mức hỗ trợ 500.000 đồng mỗi em mỗi tháng từ chính tiền lương của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời chăm lo cho 30 học sinh thuộc Dự án "Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nâng bước em tới trường".
Theo chân Thiếu tá Hoàng Văn Lịch, chúng tôi đến Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Dào San. Trong lớp học giữa núi rừng, những ánh mắt trẻ thơ bừng sáng khi nhắc đến các chú bộ đội.
Em Lý Chin Khánh, học sinh lớp 5, bẽn lẽn nói: "Nhà em nghèo lắm. Mùa đông ở đây rét nên có lúc em muốn nghỉ học. Từ ngày được các chú bộ đội cho áo ấm, sách vở và thường xuyên lên trường động viên, em cố gắng học hơn. Sau này em muốn làm bộ đội để giúp bà con như các chú."
Ngồi cạnh Khánh, em Lý Minh Ngọc, học sinh lớp 3A2, ôm chiếc cặp mới được trao tặng, mỉm cười:"Các chú bộ đội như người thân trong gia đình. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để không phụ lòng các chú và các thầy cô."
Theo cô Phạm Thị Xuân, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Dào San, nhiều học sinh của trường có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bố mất, mẹ đi làm ăn xa hoặc các em phải sống cùng ông bà già yếu.
"Nếu không có sự đồng hành của bộ đội biên phòng thì việc duy trì sĩ số sẽ vất vả hơn rất nhiều. Các anh không chỉ hỗ trợ học bổng mà còn thường xuyên vào tận bản vận động phụ huynh, mang áo ấm, sách vở, xe đạp cho học sinh. Có những hôm mưa lũ, nước suối dâng cao, các anh cõng từng cháu qua suối để đến trường. Với nhà trường, đó là sự hỗ trợ không thể thay thế."
Những câu chuyện ở Dào San cho thấy, để giữ một đứa trẻ ở lại trường cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Bộ đội biên phòng, nhà trường, chính quyền địa phương và cộng đồng đang cùng nhau tạo nên điểm tựa cho những ước mơ nhỏ bé giữa đại ngàn.
Rời Dào San, chúng tôi đến xã Pú Bẩu (Sơn La). Những bản làng vẫn nằm cheo leo trên sườn núi, mùa mưa thường xuyên xảy ra sạt lở, đá lăn, khiến con đường đến trường thêm nhiều hiểm trở. Không ít gia đình vẫn sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ. Với họ, cho con đi học đôi khi cũng đồng nghĩa với việc thiếu đi một lao động trong gia đình.
Bởi vậy, hành trình đến trường của trẻ em vùng biên không chỉ là hành trình vượt qua núi rừng mà còn là hành trình vượt qua đói nghèo, những rào cản về nhận thức và những tập quán đã tồn tại nhiều thế hệ.
Điều đáng trân trọng là giữa muôn vàn khó khăn ấy, khát vọng học tập vẫn chưa bao giờ tắt. Nhiều em vẫn kiên trì bám lớp với niềm tin rằng chỉ có tri thức mới mở ra cơ hội thay đổi cuộc đời.
Tuy nhiên, những suất học bổng, những chiếc áo ấm hay sự đồng hành của các lực lượng nơi biên giới chỉ có thể giải quyết một phần khó khăn trước mắt. Để trẻ em vùng cao được học tập ổn định và lâu dài, cần một giải pháp căn cơ hơn, đó là xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú được quy hoạch đồng bộ, có đầy đủ ký túc xá, nhà ăn, thư viện, khu sinh hoạt chung và hạ tầng phục vụ học tập.
Ở những địa bàn mà khoảng cách được tính bằng giờ đi bộ thay vì kilômét, một ngôi trường nội trú không chỉ rút ngắn quãng đường đến lớp mà còn mở ra cơ hội phát triển cho cả cộng đồng. Đó cũng chính là lý do việc đầu tư xây dựng hệ thống trường nội trú vùng biên trở thành một chủ trương có ý nghĩa chiến lược, không chỉ đối với giáo dục mà còn đối với phát triển nguồn nhân lực, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi phên dậu Tổ quốc.
MÁI TRƯỜNG - ĐIỂM TỰA CỦA CỘNG ĐỒNG VÙNG BIÊN
Đối với nhiều giáo viên cắm bản, nhiệm vụ quan trọng không chỉ là dạy chữ mà còn phải giữ học sinh không bỏ học. Sau mỗi kỳ nghỉ dài, điều khiến các thầy, cô lo lắng nhất là có em không trở lại lớp. Có em theo cha mẹ lên nương, có em nghỉ học để đi làm thuê, cũng có em lập gia đình khi tuổi đời còn quá trẻ.
Tại một số địa bàn vùng cao, những hủ tục như tảo hôn, hôn nhân cận huyết vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn. Một học sinh nghỉ học để kết hôn đồng nghĩa với cơ hội học tập và phát triển bị khép lại quá sớm. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến tương lai của các em mà còn làm suy giảm nguồn nhân lực của địa phương, kéo dài vòng luẩn quẩn của nghèo đói, thiếu tri thức và thiếu cơ hội phát triển.
Bởi vậy, giáo viên vùng cao thường vừa là người thầy, vừa là người thân, đồng thời đảm nhiệm vai trò của người làm công tác xã hội. Ngoài giờ lên lớp, họ đến từng gia đình vận động học sinh trở lại trường, giải thích cho phụ huynh về ý nghĩa của giáo dục và thuyết phục các em tiếp tục học tập. Có trường hợp, giáo viên phải nhiều lần băng rừng, đến tận nhà động viên mới đưa được học sinh trở lại lớp.
Những câu chuyện ấy cho thấy, giáo dục vùng biên không chỉ là hoạt động chuyên môn mà còn là nhiệm vụ phát triển xã hội. Để một đứa trẻ được đến trường và duy trì việc học, phía sau đó là nỗ lực bền bỉ của gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương và cả cộng đồng.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Phó Chủ tịch UBND xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai – cho biết, cùng với việc rà soát mạng lưới trường lớp sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, địa phương đang tập trung đôn đốc chủ đầu tư và các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ cải tạo trụ sở UBND xã Phìn Ngan cũ thành trường học. Mục tiêu trước mắt là hoàn thành những hạng mục thiết yếu, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động dạy và học trong năm học mới.
Hiện nay, trên địa bàn có 15 trường học và một trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trong đó gồm 3 trường trung học phổ thông, một trường phổ thông dân tộc nội trú và 2 trường liên cấp. Tuy nhiên, trước đặc thù địa bàn rộng, dân cư phân bố không tập trung, nhiều thôn bản nằm xa trung tâm và điều kiện đi lại còn khó khăn, mạng lưới trường lớp hiện có vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập, ăn ở và sinh hoạt của học sinh vùng cao. Đặc biệt, đối với con em các dân tộc Dao, Giáy và những cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực biên giới, khoảng cách từ nhà đến trường vẫn là một trong những trở ngại lớn ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục.
Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, đối với khu vực biên giới, đầu tư cho trường học cũng chính là đầu tư cho sự ổn định và phát triển lâu dài của địa phương. Khi học sinh được bảo đảm điều kiện đến trường, nguy cơ bỏ học và gián đoạn học tập sẽ từng bước được hạn chế; đồng thời, chất lượng dân trí và nguồn nhân lực tại chỗ cũng được nâng lên. Từ những mái trường chung, học sinh thuộc nhiều dân tộc có cơ hội cùng học tập, sinh hoạt, thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán. Qua đó, tinh thần đoàn kết cộng đồng được bồi đắp từ những điều gần gũi nhất trong đời sống hằng ngày.
“Xây dựng hệ thống trường học tại khu vực biên giới không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt về cơ sở vật chất và đi lại. Về lâu dài, đây còn là nền tảng để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, gìn giữ bản sắc văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc. Khi trẻ em vùng cao được học tập, trưởng thành và có cơ hội quay trở về đóng góp cho quê hương, mỗi mái trường sẽ trở thành một điểm tựa giữ dân, giữ bản và góp phần bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc”, bà Nguyễn Thị Ngọc Anh nhấn mạnh.
Thực tế tại Bát Xát cho thấy hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khi được ăn, ở và học tập trong môi trường ổn định, học sinh không còn phải vượt quãng đường dài mỗi ngày; nguy cơ bỏ học giảm xuống, trong khi cơ hội tiếp cận giáo dục, văn hóa, kỹ năng sống và các hoạt động tập thể được mở rộng.
Tuy nhiên, để trường nội trú phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây thêm phòng học hay ký túc xá. Điều quan trọng hơn là hình thành một môi trường giáo dục toàn diện, nơi học sinh được chăm lo đồng bộ về tri thức, thể chất, tinh thần và bản sắc văn hóa.
Các địa phương dọc tuyến biên giới phía Bắc và Tây Bắc vẫn phải đối mặt với nhiều khoảng cách về địa lý, hạ tầng, dịch vụ công, nguồn nhân lực và cơ hội phát triển. Trong đó, khoảng cách về giáo dục là một trong những nguyên nhân sâu xa tạo nên các khoảng cách khác.
Nếu ở đô thị, trẻ em có thể dễ dàng tiếp cận trường lớp đầy đủ trang thiết bị, internet, thư viện và phòng thí nghiệm, thì tại không ít xã vùng cao, việc duy trì sĩ số học sinh đã là một nỗ lực lớn. Một đứa trẻ không được học tập đầy đủ sẽ khó tiếp cận việc làm ổn định, khoa học – công nghệ và quá trình chuyển đổi số; đồng thời khó trở thành nguồn nhân lực có chất lượng ngay trên quê hương mình.
Bởi vậy, đầu tư cho giáo dục vùng biên không đơn thuần là đầu tư xây dựng một công trình mà là đầu tư cho tương lai của cả vùng đất. Mỗi học sinh được giữ lại trường hôm nay có thể trở thành một người lao động có tri thức trong tương lai. Mỗi em không bỏ học sẽ giảm đi nguy cơ tảo hôn, lao động sớm hoặc di cư tự do. Mỗi thế hệ trẻ được giáo dục tốt sẽ góp phần hình thành đội ngũ cán bộ, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư trưởng thành từ chính cộng đồng của mình.
Ở nhiều nơi, ngôi trường còn là công trình sáng đèn muộn nhất bản. Sau giờ học chính khóa là những giờ tự học, buổi sinh hoạt tập thể và sự tận tụy của đội ngũ giáo viên cắm bản. Ánh sáng từ những lớp học không chỉ là ánh sáng của tri thức mà còn biểu hiện cho niềm tin, khát vọng vươn lên và sự đổi thay của cộng đồng.
Khi được đầu tư đồng bộ, trường học không còn là một công trình khép kín chỉ phục vụ hoạt động dạy và học, mà có thể trở thành trung tâm sinh hoạt của cộng đồng. Sân trường là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và ngày hội đại đoàn kết; nhà đa năng phục vụ hội họp, sinh hoạt đoàn thể; thư viện mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức; các chương trình tuyên truyền về y tế, dân số, pháp luật, bảo vệ môi trường và chuyển đổi số cũng có thể được tổ chức tại đây.
Đối với mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú, giá trị của công trình càng vượt ra ngoài phạm vi giáo dục. Đây là nơi học sinh thuộc nhiều dân tộc cùng học tập, ăn ở và trưởng thành; được rèn luyện kỹ năng sống, ý thức kỷ luật, tinh thần sẻ chia và khả năng thích ứng với môi trường tập thể. Từ những sinh hoạt hằng ngày dưới một mái trường chung, tinh thần đoàn kết được hình thành một cách tự nhiên và bền vững.
Điều đó đặt ra những yêu cầu toàn diện đối với kiến trúc trường nội trú. Ngoài phòng học, công trình cần có ký túc xá an toàn, nhà ăn bảo đảm vệ sinh, thư viện, sân chơi, khu sinh hoạt văn hóa, không gian giao lưu cộng đồng và các hạng mục phục vụ đời sống hằng ngày. Mỗi không gian phải góp phần tạo nên một môi trường giáo dục thân thiện, an toàn và phù hợp với tâm lý, tập quán của học sinh các dân tộc.
Việc nghiên cứu mô hình trường nội trú vùng biên vì thế phải gắn với địa hình, khí hậu và văn hóa bản địa; đồng thời bảo đảm tính linh hoạt, tiết kiệm năng lượng và khả năng sử dụng lâu dài. Đầu tư trường học cũng cần được đặt trong tổng thể quy hoạch dân cư, giao thông, y tế, văn hóa và quốc phòng – an ninh của từng địa phương.
Tháo gỡ “điểm nghẽn” về cơ sở vật chất không chỉ giúp bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng dạy và học mà còn tạo nền tảng để Bát Xát hoàn thành tiêu chí giáo dục, xây dựng nông thôn mới bền vững. Những ngôi trường khang trang sẽ là nơi gieo chữ, giữ học sinh, nuôi dưỡng khát vọng vươn lên và bồi đắp thế trận lòng dân nơi biên cương.
Nếu những cột mốc chủ quyền khẳng định biên giới bằng tọa độ địa lý, thì những mái trường nơi biên cương lại bồi đắp chủ quyền bằng tri thức, niềm tin và lòng dân. Mỗi đứa trẻ được đến trường là thêm một hạt giống cho tương lai; mỗi lớp học sáng đèn là thêm một điểm tựa để bản làng vững vàng trước những thách thức của đói nghèo, lạc hậu và biến động xã hội.
Bởi vậy, một ngôi trường nội trú được dựng lên không chỉ tạo thêm một địa chỉ học tập. Đó còn là nơi giữ những đứa trẻ ở lại với con đường tri thức, gìn giữ bản sắc văn hóa giữa dòng chảy hiện đại, nuôi dưỡng khát vọng vươn lên và hình thành thế hệ công dân mới – những người sẽ tiếp tục xây dựng, phát triển và bảo vệ phên dậu Tổ quốc bằng tri thức, bản lĩnh và tình yêu quê hương.
Kỳ 2: MÁI NHÀ CHUNG GIỮA ĐẠI NGÀN