15:37 30/08/2026 GMT+7

Biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với tiến trình phát triển của nhân loại. Những hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện ngày càng bất thường, với tần suất dày hơn và mức độ tác động mạnh hơn, gây sức ép trực tiếp lên môi trường tự nhiên, kết cấu hạ tầng, hoạt động sản xuất và đời sống con người.

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài, nhiều đồng bằng thấp, hệ thống sông ngòi dày đặc và một bộ phận lớn dân cư sinh sống tại những khu vực dễ bị tổn thương. Những biểu hiện như mưa lớn kéo dài, bão lũ, sạt lở đất, nước biển dâng, triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn và nhiệt độ gia tăng đang tác động ngày càng rõ nét đến nhiều vùng miền.

Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc. Đây không chỉ là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng mà còn là không gian cư trú đặc thù, nơi đời sống của người dân từ lâu gắn chặt với sông ngòi, kênh rạch, mùa nước và hệ sinh thái đất ngập nước.

ĐBSCL là địa bàn đang có các thay đổi tự nhiên lớn, chịu tác động lớn bởi biến đổi khí hậu (BĐKH).

Khi điều kiện tự nhiên thay đổi, không gian cư trú cũng đứng trước yêu cầu phải thay đổi. Nhà ở không thể chỉ đáp ứng nhu cầu che mưa, tránh nắng trong điều kiện thông thường, mà phải có khả năng chống chịu và thích ứng với những trạng thái thời tiết ngày càng cực đoan. Đồng thời, các giải pháp kiến trúc phải bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế, tập quán sinh hoạt, năng lực xây dựng và khả năng vận hành của người dân.

Đây là một bài toán phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhà quản lý, nhà quy hoạch, kiến trúc sư, kỹ sư, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng. Tuy nhiên, trước khi tìm kiếm những mô hình hoàn toàn mới, việc nhìn lại kho tàng kiến trúc truyền thống có thể giúp nhận diện nhiều nguyên lý vẫn còn nguyên giá trị.

Sự đa dạng của kiến trúc, văn hóa và không gian sinh hoạt cộng đồng tạo nên bản sắc vùng miền; các công trình công cộng đồng thời có thể trở thành điểm tựa an toàn khi thiên tai xảy ra.

Theo TS.KTS Nguyễn Tất Thắng, kiến trúc truyền thống Việt Nam được hình thành và phát triển từ quá trình con người quan sát tự nhiên, tích lũy kinh nghiệm rồi chuyển hóa thành cách lựa chọn địa điểm, tổ chức không gian, sử dụng vật liệu và xây dựng công trình.

“Những kinh nghiệm ấy từ lâu đã phát triển dựa trên triết lý hòa hợp với tự nhiên, theo tinh thần ‘thuận thiên’. Việc kiến tạo không có sự trợ giúp trực tiếp của kiến trúc sư mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và cách xử lý khéo léo của người dân. Ngày nay, chúng ta thường gọi đó là các giải pháp thụ động”, TS.KTS Nguyễn Tất Thắng chia sẻ.

Kiến trúc truyền thống Việt Nam không được hình thành từ những công thức thiết kế cố định. Mỗi công trình là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài với khí hậu, địa hình, nguồn nước, vật liệu, phương thức sản xuất và tập quán sinh hoạt của từng cộng đồng.

Tại khu vực miền Bắc và miền Trung, nơi thường xuyên chịu tác động của mưa lớn, bão và lũ lụt, mái nhà truyền thống thường có độ dốc lớn để thoát nước nhanh. Phần mái vươn rộng giúp che nắng, hạn chế nước mưa tác động trực tiếp lên tường, cửa và không gian bên trong.

Hiên nhà được tổ chức như một vùng chuyển tiếp, vừa là nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt thường ngày, vừa tạo khoảng đệm giữa môi trường bên ngoài với không gian ở. Vào mùa hè, mái hiên giúp giảm bức xạ mặt trời; khi mưa, đây là lớp bảo vệ công trình; trong điều kiện thời tiết thuận lợi, hiên trở thành không gian giao tiếp của gia đình và cộng đồng.

Sân, vườn, ao nước, hàng cây, giếng và những khoảng trống trong khuôn viên không chỉ có chức năng phục vụ sinh hoạt, sản xuất. Chúng cùng tham gia điều tiết vi khí hậu, tạo bóng mát, tăng đối lưu không khí, lưu giữ nước và cải thiện chất lượng môi trường sống.

Trong điều kiện chưa có máy điều hòa, quạt thông gió hoặc hệ thống chiếu sáng hiện đại, cha ông đã biết sử dụng hướng nhà, chiều cao mái, kết cấu cửa, vật liệu và cách phân chia không gian để giảm nóng, tăng thông thoáng và tận dụng ánh sáng tự nhiên.

Những kinh nghiệm đó cho thấy kiến trúc xanh không nhất thiết phải bắt đầu bằng các thiết bị công nghệ phức tạp. Nền tảng của kiến trúc xanh trước hết là thiết kế phù hợp với tự nhiên, giảm nhu cầu sử dụng năng lượng ngay từ cách tổ chức công trình.

Kiến trúc thích ứng cần gắn kết công trình với cộng đồng, hệ sinh thái sông nước và sinh kế địa phương, hướng tới môi trường sống an toàn, nhân văn và bền vững.

TS.KTS Nguyễn Tất Thắng cho rằng, giá trị quan trọng nhất của kiến trúc truyền thống là tư duy hòa hợp với thiên nhiên. Nhà ở không tồn tại như một vật thể tách biệt mà được đặt trong mối quan hệ với địa hình, hướng gió, mặt trời, nguồn nước, cây xanh và toàn bộ không gian xung quanh.

“Tinh thần này có thể được kế thừa trong kiến trúc hiện đại thông qua việc tổ chức công trình có khả năng tự điều tiết nhiệt độ, thông gió tự nhiên và sử dụng hiệu quả ánh sáng ban ngày. Khi giảm được sự phụ thuộc vào thiết bị cơ học, công trình sẽ tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và tạo ra môi trường sống lành mạnh hơn”, ông phân tích.

Bên cạnh giải pháp không gian, vật liệu là một thành tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa kiến trúc truyền thống với điều kiện tự nhiên. Gỗ, tre, đất nện, đá, bùn, rơm rạ, lá cói, lá dừa nước và nhiều vật liệu tại chỗ đã được sử dụng linh hoạt trong các vùng cư trú.

Các loại vật liệu này thường có nguồn cung gần nơi xây dựng, giúp giảm chi phí khai thác, sản xuất và vận chuyển. Nhiều vật liệu có khả năng cách nhiệt tương đối tốt, dễ sửa chữa, thay thế, tái sử dụng hoặc trở về với tự nhiên sau khi kết thúc vòng đời.

Quan trọng hơn, cách sử dụng vật liệu gắn với kỹ năng và tri thức của cộng đồng. Người dân hiểu đặc tính của từng loại tre, gỗ, đất hoặc lá; biết lựa chọn thời điểm khai thác, cách xử lý, liên kết và bảo quản để nâng cao độ bền công trình.

Trong kiến trúc hiện đại, việc sử dụng vật liệu địa phương có thể tiếp tục phát huy hiệu quả nếu được nghiên cứu, xử lý bằng công nghệ phù hợp. Tre, gỗ hoặc vật liệu có nguồn gốc sinh học cần được nâng cao khả năng chống cháy, chống ẩm, chống mối mọt; đất và vật liệu tái chế cần được kiểm soát về cường độ, chất lượng và mức độ an toàn.

Kế thừa truyền thống vì thế không có nghĩa là trở lại hoàn toàn với kỹ thuật xây dựng cũ. Điều quan trọng là giữ được nguyên lý sử dụng tiết kiệm tài nguyên, ưu tiên vật liệu sẵn có, giảm phát thải trong vận chuyển và tạo điều kiện để công trình có thể sửa chữa, thay thế từng bộ phận.

Một giá trị khác của nhà ở truyền thống là tính linh hoạt. Không gian thường có khả năng thay đổi theo thời gian, quy mô gia đình và hoạt động sinh kế. Một khu vực có thể đảm nhận nhiều chức năng; các bộ phận công trình có thể được mở rộng, tháo lắp hoặc sửa chữa mà không nhất thiết phải phá bỏ toàn bộ.

Tính linh hoạt đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Khi điều kiện môi trường thay đổi nhanh chóng, một công trình cứng nhắc sẽ sớm trở nên lạc hậu hoặc mất an toàn. Ngược lại, nhà ở có khả năng nâng cấp, gia cố, chuyển đổi công năng và hình thành không gian trú tránh sẽ chủ động hơn trước thiên tai.

Kiến trúc truyền thống cũng luôn gắn với văn hóa và đời sống cộng đồng. Ngôi nhà không chỉ là không gian riêng của một hộ gia đình mà còn nằm trong cấu trúc xóm, làng, bản hoặc mạng lưới cư trú ven sông. Sân, hiên, bến nước và những khoảng mở là nơi diễn ra sự giao tiếp, hỗ trợ và chia sẻ giữa các thành viên trong cộng đồng.

Trong tình huống thiên tai, sự gắn kết xã hội có thể trở thành một phần quan trọng của năng lực chống chịu. Một cộng đồng có không gian chung, đường tiếp cận an toàn và khả năng hỗ trợ lẫn nhau sẽ ứng phó tốt hơn so với những công trình riêng lẻ, khép kín.

Theo TS.KTS Nguyễn Tất Thắng, kiến trúc thích ứng phải đồng thời giải quyết các yêu cầu về kỹ thuật, môi trường, văn hóa và xã hội. Nếu chỉ tập trung vào việc gia cố kết cấu mà không tính đến tập quán sống, hoạt động sản xuất và khả năng sử dụng của người dân, mô hình nhà ở dù hiện đại vẫn có thể không phát huy hiệu quả.

Nhìn từ những giá trị ấy, kiến trúc truyền thống không phải một di sản đứng yên trong quá khứ. Đây là một nguồn tri thức sống, có khả năng cung cấp các nguyên lý nền tảng cho quá trình phát triển kiến trúc xanh và kiến trúc thích ứng ngày nay.

Tuy nhiên, việc kế thừa cần tránh hai khuynh hướng. Thứ nhất là phủ nhận kinh nghiệm bản địa để áp dụng máy móc những mô hình được hình thành trong điều kiện khí hậu, kinh tế và văn hóa khác biệt. Thứ hai là sao chép hình thức truyền thống bằng cách gắn thêm mái lá, họa tiết hoặc vật liệu trang trí nhưng không giải quyết được các vấn đề về thông gió, nhiệt, nước, năng lượng và khả năng chống chịu.

“Kế thừa truyền thống phải là kế thừa nguyên lý, tinh thần và cách ứng xử với tự nhiên, không phải lặp lại nguyên xi hình thức của những ngôi nhà trong quá khứ”, TS.KTS Nguyễn Tất Thắng nhấn mạnh.

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất được tạo nên bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch và quá trình bồi tụ phù sa. Nhịp sống của cư dân nơi đây từ lâu gắn với mùa nước, hoạt động sản xuất nông nghiệp, giao thông đường thủy và các hệ sinh thái sông nước.

Điều kiện tự nhiên ấy đã tạo nên cách tổ chức cư trú có nhiều nét riêng. Nhà ở thường hướng ra sông, kênh hoặc tuyến giao thông; không gian sản xuất và sinh hoạt đan xen; vườn cây, mặt nước, bến thuyền và khoảng sân trở thành các thành phần quan trọng của khuôn viên.

Trong quá trình chung sống với nước, người dân không chỉ tìm cách ngăn chặn mà còn chủ động điều chỉnh nhà ở theo chu kỳ tự nhiên. Nhà sàn là một trong những mô hình thể hiện rõ nhất khả năng thích ứng đó.

Việc nâng sàn nhà lên cao giúp bảo vệ không gian sinh hoạt, lương thực, vật dụng và tài sản khi nước dâng. Độ cao của sàn thường được xác định từ kinh nghiệm quan sát mực nước lũ qua nhiều năm, kết hợp với vị trí địa hình và điều kiện của từng gia đình.

Không gian dưới sàn có thể được sử dụng linh hoạt trong mùa khô và sẵn sàng nhường chỗ cho dòng nước khi bước vào mùa lũ. Đây là một cách tiếp cận mềm dẻo, cho phép công trình thích nghi với nước thay vì tìm cách loại bỏ hoàn toàn sự hiện diện của nước.

“Nhà sàn truyền thống là một biểu hiện tiêu biểu của khả năng thích ứng với môi trường ngập nước. Việc nâng cao sàn giúp duy trì hoạt động sinh hoạt khi mực nước thay đổi, đồng thời phản ánh kinh nghiệm sống cùng tự nhiên đã được cộng đồng tích lũy qua nhiều thế hệ”, TS.KTS Nguyễn Tất Thắng nhận định.

Bên cạnh cao độ sàn, cấu trúc mái và không gian mở cũng đóng vai trò quan trọng. Trong điều kiện nóng ẩm, nhà ở thường có mái rộng, nhiều cửa và khoảng thoáng để tăng cường đối lưu không khí. Hiên nhà tạo bóng râm, giảm lượng nhiệt truyền trực tiếp vào không gian bên trong.

Vật liệu như gỗ, tre, lá dừa nước và các sản phẩm tự nhiên tại địa phương giúp công trình tương đối nhẹ, dễ thi công và dễ sửa chữa. Khi một bộ phận bị hư hỏng do gió, mưa hoặc ngập, người dân có thể thay thế mà không phải can thiệp toàn bộ kết cấu.

Vườn cây và mặt nước xung quanh nhà góp phần làm dịu nhiệt độ. Các khoảng đất tự nhiên giúp thấm và lưu giữ một phần nước mưa, hạn chế tình trạng nước chảy tràn trên bề mặt. Mối quan hệ giữa ngôi nhà, vườn cây, dòng nước và hoạt động sản xuất tạo nên một hệ sinh thái cư trú tương đối hài hòa.

Nhưng điều kiện hiện nay đã khác trước. Biến đổi khí hậu làm gia tăng mức độ khó dự báo của thiên tai. Lũ không còn diễn ra hoàn toàn theo quy luật quen thuộc; triều cường, sạt lở, sụt lún và xâm nhập mặn xuất hiện với những biểu hiện phức tạp hơn.

Ở một số địa bàn, quá trình đô thị hóa và xây dựng thiếu kiểm soát làm thu hẹp ao hồ, kênh rạch, tăng diện tích bê tông và cản trở dòng chảy. Những bề mặt không thấm nước khiến lượng nước mưa tập trung nhanh, trong khi khả năng lưu giữ, tiêu thoát tự nhiên bị suy giảm.

Nhiều ngôi nhà mới được xây dựng bằng bê tông, kính và các vật liệu hấp thụ nhiệt lớn nhưng thiếu giải pháp che nắng, thông gió phù hợp. Không gian sống bị đóng kín, phụ thuộc vào điều hòa và thiết bị cơ học, làm gia tăng nhu cầu sử dụng năng lượng.

Một số mô hình nhà ở được thiết kế theo mẫu phổ biến tại đô thị nhưng chưa tính đến đặc điểm đất yếu, độ ẩm cao, ngập nước và sinh kế gắn với nông nghiệp, sông nước của từng cộng đồng. Điều này tạo ra khoảng cách giữa hình thức kiến trúc với nhu cầu sử dụng thực tế.

Do đó, việc phát triển nhà ở thích ứng tại Tây Nam Bộ không thể dừng lại ở việc phục dựng nhà sàn hoặc lặp lại các hình thức truyền thống. Những kinh nghiệm cũ phải được đánh giá trong điều kiện mới, trên cơ sở dữ liệu về khí hậu, thủy văn, địa chất, sụt lún và các kịch bản thiên tai.

Cao độ nền, cao độ sàn và kết cấu công trình cần được tính toán theo mức độ rủi ro của từng khu vực. Tại nơi có nguy cơ ngập sâu, mô hình nhà sàn cải tiến có thể tiếp tục phát huy hiệu quả. Ở những khu vực ngập biến động, có thể nghiên cứu kết cấu cho phép nâng cao, điều chỉnh hoặc hình thành không gian an toàn ở tầng trên.

Với các khu vực có nguy cơ sạt lở, vấn đề quan trọng trước hết không phải là gia cố từng căn nhà, mà là đánh giá vị trí xây dựng và tổ chức lại điểm dân cư. Không thể đặt một công trình kiên cố tại khu vực có nền đất mất ổn định rồi coi đó là giải pháp an toàn lâu dài.

Tại vùng chịu tác động của xâm nhập mặn, vật liệu và thiết bị phải có khả năng chống ăn mòn. Hệ thống cấp nước cần được tổ chức phù hợp, kết hợp thu gom, lưu trữ nước mưa và sử dụng tiết kiệm nguồn nước ngọt. Các thiết bị điện, công trình vệ sinh và khu vực lưu trữ lương thực phải được bố trí ở vị trí an toàn khi xảy ra ngập.

Trong điều kiện nhiệt độ tăng, thiết kế thụ động càng cần được ưu tiên. Hướng công trình, độ vươn của mái, tỷ lệ cửa, khoảng cách giữa các khối nhà và vị trí cây xanh phải được tính toán để tạo bóng râm và tăng thông gió.

Mái nhà có thể được thiết kế hai lớp hoặc kết hợp lớp thông khí để giảm truyền nhiệt. Hiên và hành lang trở thành lớp đệm bảo vệ không gian ở. Cửa mở tại những vị trí phù hợp giúp hình thành dòng khí xuyên phòng, giảm nhu cầu sử dụng điều hòa.

Cùng với đó, cần duy trì tỷ lệ hợp lý giữa diện tích xây dựng với sân vườn, mặt nước và bề mặt thấm. Việc bê tông hóa toàn bộ khuôn viên có thể tạo thuận lợi trước mắt nhưng làm tăng nhiệt độ bề mặt, giảm khả năng thấm nước và gia tăng nguy cơ ngập cục bộ.

Theo TS.KTS Nguyễn Tất Thắng, không có một mẫu nhà thích ứng duy nhất có thể áp dụng cho toàn bộ Tây Nam Bộ. Đồng bằng sông Cửu Long là một không gian rộng, mỗi khu vực có đặc điểm khác nhau về thủy văn, địa chất, độ mặn, sinh kế và văn hóa.

“Giải pháp kiến trúc phải được lựa chọn theo điều kiện cụ thể của từng địa bàn. Chúng ta cần tránh áp dụng một mẫu thiết kế cứng nhắc cho mọi khu vực, bởi khả năng thích ứng chỉ được hình thành khi công trình thực sự phù hợp với tự nhiên và đời sống của cộng đồng”, ông lưu ý.

Kiến trúc nhà ở cũng cần được đặt trong cấu trúc điểm dân cư. Một căn nhà riêng lẻ dù được thiết kế an toàn vẫn có thể bị cô lập nếu tuyến đường bị ngập, hệ thống cấp điện, cấp nước bị gián đoạn hoặc cộng đồng không có không gian trú tránh.

Vì vậy, quy hoạch cần xác định rõ đường tiếp cận an toàn, khu vực tập trung cộng đồng, điểm sơ tán, nguồn nước dự phòng và hạ tầng thiết yếu. Không gian công cộng có thể được thiết kế đa chức năng, vừa phục vụ sinh hoạt thường ngày, vừa trở thành nơi trú tránh khi xảy ra thiên tai.

Sự thích ứng của nhà ở phải được kết nối với khả năng chống chịu của toàn bộ cộng đồng. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy bảo vệ từng công trình sang kiến tạo môi trường cư trú an toàn, linh hoạt và bền vững.

Trước biến đổi khí hậu, kiến trúc nhà ở Tây Nam Bộ cần được phát triển trên ba nền tảng: hiểu đúng điều kiện tự nhiên, kế thừa có chọn lọc tri thức bản địa và ứng dụng phù hợp thành tựu khoa học – công nghệ.

Trước hết, cần điều tra, đánh giá và phân vùng rủi ro làm cơ sở cho quy hoạch, thiết kế nhà ở. Khu vực thường xuyên ngập lụt, nơi chịu ảnh hưởng của triều cường, vùng có nguy cơ sạt lở, địa bàn xâm nhập mặn hoặc thiếu nước ngọt cần có những tiêu chí khác nhau.

Việc lựa chọn địa điểm xây dựng phải được đặt lên trước lựa chọn hình thức công trình. Nếu không gian cư trú nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở nghiêm trọng hoặc cản trở hành lang thoát lũ, giải pháp phù hợp có thể là tổ chức lại dân cư, thay vì tiếp tục gia cố nhà ở tại vị trí không an toàn.

Quy hoạch cần tôn trọng cấu trúc tự nhiên của sông ngòi, kênh rạch, vùng trũng và hành lang sinh thái. Ao hồ, mặt nước và các khoảng đất thấp có thể tham gia lưu giữ, điều tiết nước. Việc san lấp thiếu kiểm soát sẽ phá vỡ cân bằng tự nhiên và chuyển rủi ro ngập từ nơi này sang nơi khác.

Ở cấp độ công trình, thiết kế thụ động cần trở thành giải pháp đầu tiên. Nhà ở phải được bố trí phù hợp với hướng nắng, hướng gió; tăng khả năng thông gió tự nhiên; sử dụng mái, hiên và cây xanh để che nắng; kiểm soát độ ẩm; đồng thời tận dụng ánh sáng ban ngày.

Đây là những giải pháp có chi phí không quá lớn nếu được tính toán ngay từ giai đoạn thiết kế, nhưng có thể mang lại hiệu quả lâu dài về tiện nghi và tiết kiệm năng lượng. Ngược lại, nếu hình khối và không gian ban đầu không phù hợp, việc bổ sung thiết bị sau đó thường tốn kém và làm tăng chi phí vận hành.

Công trình cần có cấu trúc linh hoạt để thích ứng với những thay đổi của môi trường và gia đình. Một số khu vực có thể được nâng cao; tầng dưới có thể sử dụng theo mùa; không gian tầng trên có thể đảm nhận vai trò trú tránh trong tình huống khẩn cấp.

Hệ thống kỹ thuật phải được bố trí phù hợp với nguy cơ ngập. Tủ điện, ổ cắm, thiết bị quan trọng, nơi lưu trữ lương thực và nước sạch cần nằm trên cao. Các cấu kiện tại khu vực thường tiếp xúc với nước phải dễ vệ sinh, sửa chữa và thay thế.

Quản lý nước cần được xem là một phần của kiến trúc. Hệ thống mái có thể kết hợp thu gom nước mưa; bể chứa phải được tính toán phù hợp; nước sau sử dụng có thể được xử lý và tái dùng cho những mục đích không yêu cầu chất lượng nước uống.

Trong bối cảnh hạn hán và xâm nhập mặn, khả năng chủ động nguồn nước có ý nghĩa đặc biệt đối với các hộ gia đình. Tuy nhiên, giải pháp phải đi kèm hướng dẫn vận hành, kiểm soát vệ sinh và bảo trì để không hình thành những nguy cơ mới đối với sức khỏe.

TS.KTS Nguyễn Tất Thắng cho rằng, kinh nghiệm quản lý nước trong kiến trúc truyền thống cần được tiếp tục phát triển bằng công nghệ hiện đại. Việc thu gom, lưu trữ và sử dụng tiết kiệm nước không chỉ giúp công trình ứng phó với thiên tai mà còn giảm áp lực lên hạ tầng và nguồn tài nguyên chung.

Vật liệu xây dựng cũng cần được lựa chọn trên cơ sở đánh giá vòng đời. Bên cạnh yêu cầu về độ bền, an toàn và giá thành, phải tính đến năng lượng tiêu hao trong sản xuất, khoảng cách vận chuyển, khả năng tái sử dụng và tác động đối với môi trường.

Vật liệu địa phương có thể mang lại nhiều lợi thế, nhưng cần được chuẩn hóa và xử lý để đáp ứng yêu cầu hiện đại. Việc kết hợp tre, gỗ, vật liệu sinh học với những hệ kết cấu bền vững có thể tạo nên các công trình vừa mang bản sắc, vừa bảo đảm an toàn.

Cùng với vật liệu truyền thống, có thể sử dụng vật liệu mới có khả năng chống ẩm, chống ăn mòn, cách nhiệt và giảm phát thải. Sự kết hợp cần dựa trên tính phù hợp, tránh chạy theo hình thức hoặc sử dụng công nghệ vượt quá khả năng bảo trì của người dân.

Công nghệ số có thể hỗ trợ quá trình khảo sát, thiết kế và đánh giá hiệu quả. Các công cụ mô phỏng giúp kiến trúc sư kiểm tra bức xạ mặt trời, hướng gió, chiếu sáng tự nhiên, nhiệt độ và mức tiêu thụ năng lượng trước khi xây dựng.

Dữ liệu khí hậu và thủy văn có thể hỗ trợ xác định cao độ, hướng công trình và mức độ an toàn. Hệ thống cảm biến có thể cảnh báo mực nước, kiểm soát độ ẩm hoặc theo dõi mức sử dụng điện, nước.

Năng lượng mặt trời mái nhà, thiết bị tiết kiệm điện và hệ thống quản lý năng lượng có thể giúp hộ gia đình giảm chi phí vận hành và nâng cao mức độ chủ động. Nhưng công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ năng sử dụng và khả năng sửa chữa tại địa phương.

Một ngôi nhà được trang bị nhiều thiết bị hiện đại nhưng phụ thuộc vào linh kiện đắt tiền, khó bảo trì hoặc không phù hợp với thói quen sinh hoạt sẽ khó bền vững. Ngược lại, một giải pháp đơn giản, dễ vận hành, có thể sửa chữa bằng nguồn lực tại chỗ thường mang lại hiệu quả lâu dài hơn.

Vì vậy, kiến trúc thích ứng không thể chỉ là sản phẩm của kiến trúc sư hoặc nhà quản lý. Người dân phải được tham gia từ giai đoạn xác định nhu cầu, chia sẻ kinh nghiệm, lựa chọn giải pháp đến xây dựng và đánh giá hiệu quả.

Cộng đồng là chủ thể nắm giữ tri thức bản địa và cũng là người trực tiếp vận hành công trình. Những thông tin về mực nước, hướng gió, vị trí sạt lở, chất lượng nguồn nước và tập quán sinh hoạt của người dân có giá trị quan trọng đối với quá trình thiết kế.

Theo TS.KTS Nguyễn Tất Thắng, phát triển kiến trúc thích ứng cần tạo được sự kết nối giữa tri thức khoa học và kinh nghiệm dân gian. Khoa học giúp dự báo những biến động trong tương lai; tri thức bản địa giúp nhận diện đặc điểm cụ thể của địa bàn và bảo đảm giải pháp phù hợp với đời sống.

Các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức nghề nghiệp cần tiếp tục khảo sát, hệ thống hóa các mô hình cư trú truyền thống tại Đồng bằng sông Cửu Long. Những kinh nghiệm có giá trị phải được phân tích trên cơ sở khoa học, từ đó xây dựng bộ nguyên tắc và các mẫu tham khảo phù hợp với từng nhóm rủi ro.

Các dự án thử nghiệm cần được theo dõi sau khi đưa vào sử dụng. Hiệu quả không chỉ được đánh giá qua hình thức công trình mà phải dựa trên khả năng chống chịu, mức tiêu thụ năng lượng, chi phí bảo trì, chất lượng môi trường trong nhà và mức độ hài lòng của người dân.

Chính sách hỗ trợ nhà ở thích ứng cũng cần hướng đến những nhóm dân cư dễ bị tổn thương. Người có thu nhập thấp, người dân ở vùng thường xuyên chịu thiên tai thường có ít nguồn lực để tự đầu tư giải pháp an toàn. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ, những mô hình tốt có thể chỉ dừng ở công trình trình diễn mà khó nhân rộng.

Kiến trúc truyền thống tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long chứa đựng nhiều giá trị quý báu, cần được phát triển và kế thừa để thích ứng với BĐKH. Những giá trị này không chỉ giúp người dân trong khu vực sống hòa hợp với thiên nhiên mà còn đảm bảo sự bền vững và khả năng chống chịu trước các tác động tiêu cực của BĐKH. Sau đây là những giá trị quan trọng cần được phát triển và kế thừa.

Bên cạnh hỗ trợ tài chính, cần hướng dẫn kỹ thuật dễ hiểu, phát triển nguồn vật liệu phù hợp và đào tạo đội ngũ thợ xây dựng tại địa phương. Khi cộng đồng có khả năng chủ động áp dụng, sửa chữa và cải tiến công trình, sức chống chịu sẽ được nâng lên một cách bền vững.

Đặc biệt, kiến trúc thích ứng phải bảo tồn được bản sắc văn hóa. Nhà ở Tây Nam Bộ gắn với không gian mở, mối quan hệ với dòng nước, vườn cây, hoạt động sản xuất và sự giao tiếp trong cộng đồng. Nếu mô hình mới làm đứt gãy hoàn toàn những mối liên hệ đó, công trình có thể đáp ứng một số yêu cầu kỹ thuật nhưng làm suy giảm chất lượng văn hóa và đời sống xã hội.

“Việc kế thừa các giá trị truyền thống không chỉ giúp kiến trúc thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu mà còn tạo ra những công trình bền vững, có tính thẩm mỹ và mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam. Đây là con đường để tiếp nối kiến trúc truyền thống theo hướng hiện đại hóa kiến trúc bản địa”, TS.KTS Nguyễn Tất Thắng nhấn mạnh.

Chuyển đổi xanh trong kiến trúc đòi hỏi kết hợp tri thức truyền thống với công nghệ, quản lý tài nguyên và kinh tế tuần hoàn, qua đó giảm phát thải và nâng cao khả năng chống chịu của công trình.

Kiến trúc nhà ở Tây Nam Bộ trong tương lai vì thế không thể được tạo dựng bằng cách phủ nhận quá khứ hoặc áp đặt những mô hình xa lạ. Đó phải là kết quả của một quá trình tiếp nối có chọn lọc: lấy tri thức “thuận thiên” làm nền tảng, sử dụng khoa học – công nghệ để nâng cao khả năng chống chịu, đồng thời đặt con người, văn hóa và hệ sinh thái ở vị trí trung tâm, một hướng phát triển mới có thể hình thành: nhà ở biết thích ứng trước những biến động, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và sống hài hòa với tự nhiên.

Đó không chỉ là giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn góp phần thực hiện định hướng phát triển nền kiến trúc Việt Nam phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa bản địa và yêu cầu của kỷ nguyên công nghệ số. Quan trọng hơn, đó là hành trình kiến tạo những không gian sống an toàn, nhân văn và bền vững cho người dân vùng đất Chín Rồng hôm nay và các thế hệ mai sau.

Từ những nếp nhà sông nước thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể thấy, kiến trúc xanh không phải là khái niệm hoàn toàn xa lạ, mà đã hiện diện trong kinh nghiệm cư trú của người Việt qua nhiều thế hệ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những tri thức “thuận thiên” ấy được kế thừa, chuyển hóa bằng khoa học, công nghệ và tư duy thiết kế hiện đại, tạo nên những công trình vừa tiết kiệm tài nguyên, vừa bảo đảm an toàn, tiện nghi và gìn giữ bản sắc.

Từ nền tảng đó, Kỳ 2 mở rộng góc nhìn ra bình diện quốc gia và quốc tế, phân tích kiến trúc xanh như một cơ hội để Việt Nam khẳng định bản sắc, năng lực sáng tạo và vị thế trên bản đồ kiến trúc thế giới.

KỲ 2: KIẾN TRÚC XANH – CƠ HỘI ĐỊNH VỊ VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ KIẾN TRÚC THẾ GIỚI

TỪ KHÓA #TỪ NẾP NHÀ SÔNG NƯỚC #ĐẾN KIẾN TRÚC #Thích ứng #biến đổi khí hậu
Tin cùng chuyên mục