Chính sách đất đai trong kỷ nguyên mới: Từ bài học Vĩnh Phúc đến yêu cầu đồng thuận phát triển

Chính sách đất đai trong kỷ nguyên mới: Từ bài học Vĩnh Phúc đến yêu cầu đồng thuận phát triển

(Vietnamarchi) - Trong bối cảnh hiện nay, khi vấn đề sở hữu đất đai vẫn đang được tiếp cận theo nguyên tắc “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, thì thực tiễn phát triển lại cho thấy sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu và sử dụng khác nhau: từ Nhà nước, cá nhân, doanh nghiệp đến các tổ chức tôn giáo…
09:13, 27/04/2026

Việc Nhà nước đã công nhận nền kinh tế đa thành phần cũng đồng nghĩa với việc tài sản  trong đó có đất đai  cần được nhìn nhận theo hướng đa dạng hơn về quyền lợi và cơ chế tiếp cận.

Đây là một bài toán phức tạp, nhạy cảm và chưa thể có lời giải ngay lập tức, nhưng rõ ràng sẽ phải đi đến một sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn, nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích, củng cố niềm tin xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững.

Nhờ quỹ đất lớn, giao thông cải thiện, chi phí hợp lý và chính sách mở cửa, Phú Thọ được kỳ vọng sẽ tăng tốc mạnh trong thập kỷ tới. Ảnh: Internet

Từ góc nhìn đó, bài học thực tiễn từ Vĩnh Phúc trở nên đặc biệt đáng suy ngẫm trong việc tìm kiếm những cách tiếp cận hiệu quả hơn đối với chính sách đất đai.

Trong nhiều năm qua, thực tiễn quản lý cho thấy phần lớn các vụ việc khiếu kiện của công dân tập trung vào lĩnh vực đất đai, đặc biệt là khâu thu hồi, bồi thường và tái định cư. Đây không đơn thuần là câu chuyện pháp lý hay kinh tế, mà thực chất là phép thử khắc nghiệt đối với năng lực quản trị và mức độ đồng thuận xã hội.

Khi đất đai – tư liệu sản xuất quan trọng nhất của người dân bị thu hồi để phục vụ phát triển, câu hỏi cốt lõi không chỉ dừng lại ở việc “đền bù bao nhiêu”, mà sâu xa hơn là “người dân sẽ sống ra sao sau đó”. Nếu không trả lời thỏa đáng câu hỏi này, mọi chính sách dù hợp lý trên giấy tờ cũng có thể trở thành nguồn gốc của những bất ổn kéo dài.

Vĩnh Phúc: Một lựa chọn khác biệt trong cơn lốc công nghiệp hóa

Đầu những năm 2000, Vĩnh Phúc nổi lên như một “hiện tượng” về thu hút đầu tư. Các khu công nghiệp phát triển nhanh chóng với sự hiện diện của nhiều tập đoàn lớn, kéo theo nhu cầu thu hồi hàng nghìn hecta đất nông nghiệp.

Vĩnh Phúc hiện đang được xem là cực tăng trưởng công nghiệp ở khu vực phía Bắc. Ảnh: Internet

Trong bối cảnh đó, thay vì chỉ áp dụng cơ chế đền bù bằng tiền vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro cạn kiệt sinh kế, tỉnh đã lựa chọn một hướng đi mang tính đột phá: triển khai chính sách đất dịch vụ. Theo đó, người dân bị thu hồi đất không chỉ nhận tiền bồi thường, mà còn được bố trí một phần đất ở vị trí thuận lợi để kinh doanh, buôn bán. Chính lựa chọn này đã tạo nên sự khác biệt căn bản: quá trình thu hồi đất không còn là sự “đánh đổi” thiệt hơn, mà trở thành cơ hội “chuyển đổi” nghề nghiệp bền vững.

Những thành tựu thực tiễn và điểm nghẽn cần tháo gỡ

Thực tiễn hơn hai thập kỷ qua minh chứng chính sách đất dịch vụ đã góp phần quan trọng vào thành công toàn diện của Vĩnh Phúc. Về kinh tế, từ một tỉnh thuần nông, Vĩnh Phúc vươn lên nhóm dẫn đầu miền Bắc về công nghiệp hóa, giải quyết bài toán việc làm cho hàng vạn lao động địa phương.

Tại Vĩnh Yên, Phúc Yên hay Bình Xuyên, các khu đất dịch vụ đã hình thành những tuyến phố thương mại, chuỗi nhà trọ và cơ sở sản xuất sầm uất, tạo nguồn thu nhập thụ động và chủ động ổn định cho người dân.

Về xã hội, tâm lý “bị mất đất” dần được thay thế bằng cảm nhận “được chia sẻ lợi ích”, giúp nhiều hộ gia đình ổn định cuộc sống và vươn lên khá giả.

Về quản trị, tỉnh kiến tạo được sự đồng thuận cao, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để đón làn sóng đầu tư lớn.

Tuy nhiên, quá trình triển khai không tránh khỏi những điểm nghẽn. Sự chậm trễ trong việc giao đất thực địa từng tạo ra các khoản “nợ chính sách” kéo dài. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ việc thiếu hụt nguồn vốn đầu tư hạ tầng đồng bộ cho chính các khu đất dịch vụ, vướng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng thứ cấp, và đôi khi là năng lực thực thi chưa đồng đều ở cấp cơ sở.

Dù vậy, việc chính quyền kiên trì giải quyết tồn đọng, nỗ lực bàn giao đất gắn với hạ tầng hoàn thiện đã khôi phục giá trị kinh tế của quỹ đất, qua đó củng cố lại niềm tin của nhân dân.

Giá trị cốt lõi: Từ “đền bù” sang “tái tạo sinh kế”

Điều làm nên sức sống của chính sách đất dịch vụ nằm ở triết lý phát triển mà nó hàm chứa: sự chuyển dịch từ tư duy “bồi thường thiệt hại” sang tư duy “tái tạo cơ hội”.

Tiền đền bù chỉ giải quyết được cú sốc kinh tế ngắn hạn, nhưng một cơ chế đưa người dân hội nhập vào không gian kinh tế mới sẽ tạo ra chuỗi giá trị bền vững. Chính triết lý nhân văn này đã giúp Vĩnh Phúc cân bằng được bài toán tăng trưởng nóng và ổn định trật tự xã hội.

Vận dụng trong kỷ nguyên mới: Tích hợp quy hoạch và đa dạng hóa sinh kế

Ngày nay, bối cảnh phát triển đã mang những sắc thái mới với tốc độ đô thị hóa nhanh, quy mô dự án lớn, giá trị đất đai tăng cao và yêu cầu minh bạch khắt khe hơn.

Bài học Vĩnh Phúc không thể sao chép cơ học mà cần được nâng tầm để tương thích với hệ thống pháp luật mới. Đặc biệt, Luật Đất đai 2024 đã thể chế hóa tư duy tiên tiến này thông qua việc cho phép bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác hoặc bằng nhà ở, cùng các quy định chặt chẽ về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề.

Đồng bào dân tộc thiểu số xã Đạo Trù, Tam Đảo, Vĩnh Phúc phát triển mô hình trồng cây dược liệu có giá trị kinh tế cao. (Ảnh: Trường Khanh)

Để hiện thực hóa các chính sách này, quy hoạch không chỉ cần "đi trước một bước" mà phải là quy hoạch tích hợp. Các khu tái định cư, đất dịch vụ không thể bị cô lập mà phải được lồng ghép hữu cơ vào quy hoạch không gian vùng, gắn kết chặt chẽ với các trục giao thông và luồng giao thương thương mại.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các gói hỗ trợ sinh kế, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào chuỗi giá trị mới thông qua việc làm, kinh doanh, hoặc hưởng lợi trực tiếp từ dự án.

Đồng thuận xã hội vẫn là nền tảng của phát triển bền vững. Khi các chính sách bồi thường được minh bạch hóa, lộ trình thực thi được cam kết rõ ràng thông qua đối thoại bình đẳng, người dân sẽ tự nguyện đồng hành.

Một chính sách đất đai đúng đắn không chỉ khơi thông nguồn lực phát triển mà còn bồi đắp nguồn lực vô giá là niềm tin. Biến người dân từ đối tượng bị ảnh hưởng thành chủ thể đồng hành và hưởng lợi chính là con đường ngắn nhất để hóa giải mọi điểm nóng, biến chính sách trên giấy thành sức mạnh kiến tạo thực tiễn.

Mở rộng dư địa phát triển bất động sản

Trong chiến lược phát triển đô thị của Thủ đô Hà Nội, đại lộ cảnh quan sông Hồng được kỳ vọng trở thành trục động lực mới, kết nối không gian phát triển hai bên bờ sông. Cùng với hệ thống hạ tầng giao thông đang được đẩy mạnh đầu tư, dự án không chỉ mở rộng dư địa phát triển đô thị mà còn tạo “lực đẩy” đáng kể cho thị trường bất động sản (BĐS), đặc biệt tại các khu vực ven sông và khu vực lân cận.

Bài 9: Năm điều kiện để hoàn thành 500km đường sắt Hà Nội tới năm 2035

Hà Nội sớm công bố Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, trong đó 979km đường sắt đô thị (ĐSĐT) sẽ là trục xương sống mạng lưới giao thông đô thị và kết nối. Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2035 đầu tư xây dựng khoảng 500km đường sắt, tác giả xin đưa ra những điều kiện để hiện thực hoá mục tiêu này.

So sánh tư duy kiến trúc cảnh quan truyền thống Việt Nam và phương Tây

Thiết kế kiến trúc cảnh quan là một phương tiện văn hóa đặc thù mà qua đó nhân loại thể hiện vai trò chủ thể của mình bằng cách tổ chức, sắp đặt các tạo vật tự nhiên. Đằng sau những cấu trúc không gian đó là sự hiểu biết sâu sắc và trí tưởng tượng phong phú của con người về vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, lịch sử và nhân sinh. Đó là một hình thức nghệ thuật đỉnh cao, giàu ý thức triết học và sở hữu sức hấp dẫn thẩm mỹ đặc trưng. Do đó, các truyền thống văn hóa khác nhau tất yếu sẽ tạo ra các hình thái kiến trúc cảnh quan khác nhau. Sự khác biệt trong ngôn ngữ tạo hình bên ngoài giữa kiến trúc cảnh quan Việt Nam và phương Tây bắt nguồn sâu xa từ những đặc trưng trong truyền thống văn hóa – từ nền tảng triết học, tôn giáo, đạo đức cho đến các quan niệm thẩm mỹ cốt lõi. Bài viết tiếp cận từ góc độ hệ giá trị văn hóa và quan niệm về tự nhiên. Thông qua việc đối chiếu giữa triết lý "Thuận thiên" của cảnh quan Việt Nam và khái niệm "Designed Wilderness" trong vườn phong cảnh Anh, nghiên cứu chỉ ra rằng sự khác biệt cốt lõi không nằm ở mức độ can thiệp vào tự nhiên mà nằm ở mục đích, hệ giá trị và cách thức con người kiến tạo quan hệ với tự nhiên. Trên cơ sở đó, bài viết gợi mở khả năng vận dụng tư duy cảnh quan truyền thống Việt Nam vào định hướng phát triển cảnh quan bền vững đương đại.

Từ hạ tầng xám đến hạ tầng sinh thái: Tư duy thành phố bọt biển cho TP Cần Thơ

Những năm gần đây, Thành phố Cần Thơ (đặc biệt là khu vực nội ô Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy), liên tục chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các trận mưa lớn và và triều cường, lớn nhất tháng 9, 10, 11 hàng năm, khiến nhiều khu vực nội thành rơi vào tình trạng ngập sâu kéo dài. Tình trạng ngập úng do triều cường cũng ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt tại TP Cần Thơ. Nhiều khu vực bị ngập sâu từ 0,6-0,7m, thời gian ngập kéo dài từ 4-6 giờ mỗi đợt triều, thậm chí lên tới 10-12 giờ khi xuất hiện mưa lớn kết hợp triều cường (Đào Văn, 2026). Ngập lụt tại đây diễn biến khá phức tạp đã gây trở ngại lớn cho nhiều hoạt động kinh tế, xã hội đặc biệt là kinh doanh buôn bán, hoạt động giao thông, sản xuất nông nghiệp, vệ sinh môi trường và bộ mặt cảnh quan đô thị ở thành phố.

Bài 8: Ứng dụng công nghệ số để phát triển kinh tế Xanh sinh thái bền vững Hà Nội

Thành phố Hà Nội đặt hàng các tổ chức cá nhân quan tâm tham gia giải quyết 30 bài toán. Các KTS Hà Nội đã hợp tác với các bên liên quan để tổ hợp thành 2 nhóm: Nhóm 1 “Phát triển Giao thông Xanh” và nhóm 2 “Ứng dụng công nghệ số để phát triển kinh tế xanh – sinh thái bền vững Hà Nội”. Bài viết trình bày nội dung thuộc nhóm 2.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh