Các khía cạnh chính trong kiến trúc bền vững

Các khía cạnh chính trong kiến trúc bền vững

(Vietnamarchi) - Đẩy mạnh việc trao đổi, hợp tác quốc tế trong kiến trúc nhằm quảng bá, nâng cao vị thế kiến trúc Việt Nam ra thế giới; học hỏi phát huy các xu hướng tiến bộ trong kiến trúc như “kiến trúc xanh”, “kiến trúc thông minh”… theo tinh thần “hội nhập” nhưng không “hòa tan”, gìn giữ và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.
09:00, 22/01/2025
TS.KTS Tạ Quốc Thắng - Chuyên viên Vụ Kiến trúc Quay hoạch - Bộ Xây dựng

Nói về khía cạnh bền vững, có nội hàm rất rộng, nếu chúng ta tiếp cận bền vững theo khái niệm phát triển bền vững của Liên hợp quốc sẽ không biết phải làm những gì trong các mục tiêu của phát triển bền vững (SDGs). Vậy nên cần tập trung lại một số khía cạnh chính về bền vững trong kiến trúc theo 04 trụ cột như sau:

Thứ nhất, cần xây dựng, hoàn thiện khái niệm về bền vững trong kiến trúc, kiến trúc cần bền vững từ vật liệu xây dựng, khoa học công nghệ, kỹ thuật xây dựng… là những thứ trực diện nhất để công trình có tuổi thọ và giá trị sử dụng lâu dài, tiếp đến là tổ chức không gian, thẩm mỹ kiến trúc phù hợp với văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, thích ứng với điều kiện tự nhiên, địa hình, địa mạo và khí hậu mỗi địa phương.

Thứ hai, tiếp cận từ góc độ chính sách thúc đẩy phát triển kiến trúc hướng tới bền vững: có 02 vấn đề đã được luật hóa tại Luật Kiến trúc năm 2019 là “Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc” (Điều 5) và “Công trình kiến trúc có giá trị” (Điều 13); đây là các công cụ để quản lý, phát triển kiến trúc hiện đại đồng thời kế thừa các giá trị của kiến trúc truyền thống đưa vào Quy chế quản lý kiến trúc của mỗi địa phương. 

Cần xây dựng, hoàn thiện khái niệm về bền vững trong kiến trúc

Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc gồm các đặc điểm, tính chất tiêu biểu, dấu ấn đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa, nghệ thuật; thuần phong mỹ tục của các dân tộc; kỹ thuật xây dựng và vật liệu xây dựng, được thể hiện trong công trình kiến trúc, tạo nên phong cách riêng của kiến trúc Việt Nam. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, khảo sát, đánh giá và quy định nội dung yêu cầu về bản sắc văn hóa dân tộc trong quy chế quản lý kiến trúc phù hợp với địa bàn quản lý. Thực tế triển khai công tác nghiên cứu về “Bản sắc văn hóa dân tộc” để lồng ghép trong Quy chế quản lý kiến trúc tại các địa phương trong giai đoạn vừa qua chưa thực sự được quan tâm; cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, làm rõ các yêu cầu về bản sắc văn hóa dân tộc riêng của mỗi vùng miền trong kiến trúc.

Công trình kiến trúc có giá trị là công trình kiến trúc tiêu biểu, có giá trị về kiến trúc, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập, ban hành Danh mục Công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn tỉnh. Công trình kiến trúc có giá trị là một trong các yếu tố quan trọng để phát triển kiến trúc bền vững bởi nó là một thực thể “kiến trúc sống”, phân biệt với khái niệm “Di tích kiến trúc, nghệ thuật” theo pháp luật về di sản văn hóa; nó là yếu tố tạo nên “dấu ấn”, “hồi ức” của mỗi vùng miền, nó phản ánh các giá trị lịch sử, văn hóa và là sợi dây kết nối quá khứ - hiện tại và tương lai cho kiến trúc. Cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các tiêu chí đánh giá; chính sách bảo vệ và khai thác đối với các Công trình kiến trúc có giá trị để hướng tới xây dựng kiến trúc bền vững của mỗi vùng miền.          

Đưa các giá trị của kiến trúc truyền thống vào Quy chế quản lý kiến trúc

Thứ ba, cần xác định rõ vai trò của lý luận, phê bình trong kiến trúc; không chỉ đơn thuần để đánh giá, phản biện kiến trúc; lý luận, phê bình có vai trò định hướng, dẫn dắt cho phát triển kiến trúc hướng tới bền vững; là công cụ hỗ trợ cho chính sách quản lý phát triển kiến trúc. Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (phê duyệt tại Quyết định số 1246/QĐ-TTg ngày 19/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ) đã nêu rõ, phát triển hệ thống lý luận, phê bình kiến trúc gắn lý thuyết với thực tiễn và giá trị bản sắc dân tộc, tính bản địa trong kiến trúc; đẩy mạnh phản biện xã hội thông qua phê bình kiến trúc; xây dựng bản sắc kiến trúc mới của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật. Cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện định hướng phát triển kiến trúc theo các vùng đặc thù về kiến trúc (Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long) nhằm củng cố cơ sở lý luận, xây dựng “Quỹ” giá trị kiến trúc truyển thống, tạo tiền đề cho quản lý, phát triển kiến trúc mỗi địa phương hướng tới bền vững.

Thứ tư, nâng cao nhận thức về bền vững trong kiến trúc, đặc biệt ở khía cạnh kế thừa các giá trị kiến trúc truyền thống.

Cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các chủ đầu tư, cho cộng đồng xã hội nói chung về các giá trị kiến trúc truyền thống, có như vậy mới hạn chế được hiện tượng xây dựng “lâu đài” trong mỗi đô thị, để hiểu rằng công trình kiến trúc có sứ mệnh riêng, hình ảnh kiến trúc của công trình được góp phần vào cái “chung” của mỗi đô thị, là trách nhiệm đối với xã hội, nó không còn là cái “riêng” của các chủ sở hữu, chủ sử dụng.... 

Hướng đến bền vững trong kiến trúc thì không ai khác chính là trách nhiệm của những người làm nghề

Cuối cùng, hướng đến bền vững trong kiến trúc thì không ai khác chính là trách nhiệm của những người làm nghề; người kiến trúc sư hành nghề khi thiết kế các công trình cần có nhận thức đúng đắn về kế thừa các giá trị truyền thống trong kiến trúc, không dập khuôn, không sao chép; cần cái tâm và bản lĩnh của người làm nghề để từ chối các yêu cầu không phù hợp của khách hàng. Muốn vậy, cần nâng cao chất lượng đội ngũ kiến trúc sư hành nghề; tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động cập nhật nâng cao kiến thức, phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD), tăng cường hiểu biết về Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của kiến trúc sư hành nghề; mở rộng, lan tỏa cho giới kiến trúc sư trẻ hiểu biết, hướng đến những kiến trúc có giá trị bền vững cho kiến trúc tương lai. Đẩy mạnh việc trao đổi, hợp tác quốc tế trong kiến trúc nhằm quảng bá, nâng cao vị thế kiến trúc Việt Nam ra thế giới; học hỏi phát huy các xu hướng tiến bộ trong kiến trúc như “kiến trúc xanh”, “kiến trúc thông minh”… theo tinh thần “hội nhập” nhưng không “hòa tan”, gìn giữ và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới./.

Phòng ngừa cháy nổ trong công trình lắp đặt trạm sạc xe điện: Điều kiện hiện tại, rủi ro và các giải pháp tích hợp

(KTVN 262) Thực trạng công tác phòng ngừa cháy trong lắp đặt trạm sạc xe điện phản ánh một nghịch lý. Một mặt, hạ tầng sạc EV đã mở rộng nhanh chóng và ngày càng được công nhận là một thành phần thiết yếu của giao thông ít phát thải carbon, hệ thống năng lượng thông minh và các chiến lược phát triển bền vững đô thị [1, 22]. Mặt khác, sự phát triển thực tế của công tác phòng ngừa cháy không phải lúc nào cũng theo kịp tốc độ triển khai hạ tầng, đặc biệt liên quan đến sạc công suất cao, hành vi cháy liên quan đến pin, giám sát thông minh và khả năng chống chịu mạng - vật lý. Kết quả, ngày nay nhiều cơ sở sạc đang vận hành trong một môi trường an toàn mang tính chuyển tiếp: chúng có thể đáp ứng các yêu cầu thiết kế điện truyền thống, nhưng vẫn thiếu kiến trúc phòng ngừa cháy tích hợp cần thiết cho các rủi ro vận hành mới.

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

(KTVN 262) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng cấp bách, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí metal của ngành giao thông vận tải, định hướng phát triển hệ thống giao thông vận tải xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050.Quá trình đô thị hóa nhanh, dân số trẻ, tăng trưởng kinh tế ổn định và nhu cầu giảm ô nhiễm không khí là những động lực chính thúc đẩy chuyển đổi sang xe điện. Không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia trong khu vực đã cam kết giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy kinh tế xanh, tạo nền tảng chính sách thuận lợi cho phát triển phương tiện giao thông điện.

Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

(KTVN 262) Trước thực trạng phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, khó lường, phương tiện giao thông điện (EV, e-bike, e-motorbike) xuất hiện như một lựa chọn hàng đầu cho mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Nhưng cùng với những thế mạnh của chúng, các vụ cháy đã xảy ra trên thế giới và Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp bách về đảm bảo an toàn cháy cho các công trình, đặc biệt tại các khu vực không gian kín như tầng hầm nhà cao tầng hay khu dân cư. Để giải quyết những rủi ro này, cần có một cách tiếp cận toàn diện bao gồm các biện pháp kỹ thuật và quản lý, từ đánh giá rủi ro khác biệt đến các cơ chế an toàn xuyên suốt. Tham luận đánh giá thực trạng hạ tầng và khoảng trống pháp lý tại Việt Nam, phân tích các định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy (PCCC) cần thiết để ứng phó hiệu quả với những rủi ro cháy nổ liên quan đến khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe trong các tầng hầm nhà chung cư và khu dân cư tại Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và đặc thù trong nước, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách về kỹ thuật, quản lý và vận hành nhằm đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

(KTVN 262) Sự chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe chạy nguyên liệu hóa thạch sang xe chạy điện là xu thế tất yếu của giao thông xanh, quá trình chuyển đổi này hiện đang diễn ra nhanh chóng, tạo ra những thách thức không nhỏ đối với hệ thống hạ tầng đô thị, trong đó đặc biệt là thách thức đối với hạ tầng bến, bãi đỗ xe tại các đô thị ở nước ta. Một ví dụ điển hình là vấn đề “Hạ tầng xe điện và chung cư, nhà ở cao tầng” đang trở thành một trong những điểm nóng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ hạ tầng kỹ thuật đô thị, tập trung vào các vấn đề về quy hoạch không gian, các vấn đề về kỹ thuật đối với bến, bãi đỗ xe, trạm sạc để đáp ứng nhu cầu đặt ra của quá trình chuyển đổi phương tiện giao thông sang xe điện.

Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ cần cách tiếp cận đồng bộ

(KTVN 262) Sự gia tăng của xe điện trong các đô thị lớn đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích ứng của hạ tầng kỹ thuật và hệ thống quản lý. Điều này tạo ra một khoảng trống mà trong đó, rủi ro không đến từ bản thân công nghệ, mà đến từ sự thiếu đồng bộ giữa phát triển phương tiện và tổ chức không gian đô thị.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh