Bài 1: Quy hoạch tổng thể Quốc gia là căn cứ lập Quy hoạch Thủ Đô

(Vietnamarchi) - Tháng 4/2023, Chính phủ công bố và triển khai quy hoạch tổng thể Quốc gia, là căn cứ để lập các Quy hoạch ngành, không gian biển, sử dụng đất Quốc gia và Quy hoạch vùng, địa phương. Hà Nội sẽ triển khai Quy hoạch Thủ đô như thế nào?
11:58, 26/06/2023

Nhiệm vụ giải pháp trọng tâm của Quy hoạch Tổng thể Quốc gia

Quy hoạch tổng thể Quốc gia thời kỳ 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050 lần đầu tiên được xây dựng ở nước ta, là quy hoạch vừa mang tính tổng thể, vừa mang tính chiến lược, bao trùm mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội (thay cho Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội) với định hướng: “Tư duy mới – Tầm nhìn mới – Cơ hội mới – Giá trị mới”, là căn cứ để lập Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch sử dụng đất Quốc gia, Quy hoạch ngành Quốc gia, Quy hoạch vùng và Quy hoạch các địa phương; Đột phá chiến lược về phát triển hạ tầng; đồng thời loại bỏ các quy hoạch chồng chéo, cản trở phát triển, gây khó khăn cho việc huy động các nguồn lực, phát huy tối đa hoạt động đầu tư và phát triển của cả đất nước, của từng vùng và từng địa phương với tầm nhìn dài hạn, tổng thể.

Đứng đầu trong nhiệm vụ giải pháp trọng tâm là “Rà soát, cập nhật và cụ thể hóa các nội dung của Quy hoạch tổng thể Quốc gia vào các quy hoạch quốc gia, vùng và cấp tỉnh đã phê duyệt hoặc đang thẩm định, đang lập, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của các cấp quy hoạch. Chỉ đạo việc rà soát các quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt theo quy định của Luật Quy hoạch.” (1)

Tháng 10/2022, Hà Nội công bố “Báo cáo Rà soát, đánh giá Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 (QH 1259)”, sau 10 năm thực hiện 2011-2021. Niên giám thống kê năm 2020 dân số Hà Nội là 8,25 triệu người,, trong đó dân thành thị 4,06 triệu, so với QH 1259 dự báo 4,67 triệu người, như vậy là thấp hơn dự báo. Tuy vậy tính toán của Viện Quy hoạch xây dựng, dân số trung tâm TP đã gần 4,8 triệu người và kết luận “mật độ dân cư của Thành phố trên thực tiễn đã vượt khỏi tầm kiểm soát của QH 1259… chưa phù hợp với thực tiễn, chưa khai thác được hết tiềm năng quỹ đất và chưa tạo được tiền đề thúc đẩy việc hút dân ra khỏi nội đô”. (2)

Cách đưa ra các con số thống kê và nhận định chủ quan của Báo cáo rà soát đánh giá… sẽ dẫn đến những đề xuất mở rộng diện tích đất đô thị thiếu cơ sở. Trong báo cáo không có số liệu thống kê biến đổi diện tích giao đất dự án bất động sản tăng trong giai đoạn 2011-2021; tổng diện tích sàn đã cấp phép xây dựng, đã sử dụng; Đất đã giao còn bỏ hoang, diện tích sàn đã xây dựng nhưng không có người ở, chỉ để mua đi bán lại.

Chương trình phát triển đô thị tổng thể Thủ đô Hà Nội (HAIDEP), do JICA thực hiện năm 2007, đã thể hiện biến đổi đất đô thị Hà Nội qua các năm1923, 1983, 1996 và 2003; Dân số đô thị Hà Nội 2003 là 2,4 triệu người; Năm 2023 là 4,8 triệu người. Căn cứ bản đồ nội thành 2003, dùng phương pháp số hóa hình học (geometry digitization) đồng bộ dữ liệu so sánh với bản đồ QH 1259 (với các dự án đã giao đất và vùng phát sáng trên ảnh vệ tinh đen 2021) cho thấy: Dân cư đô thị tăng gấp đôi, Diện tích đất đô thị thực tế và đã quy hoạch đô thị tăng gấp 10 lần.

Biến đổi dân cư và diện tích đất đô thị hóa. Nguồn: Hanoidata & City Solution

Quy hoạch với “Tư duy mới – Tầm nhìn mới – Cơ hội mới – Giá trị mới”

Báo cáo Rà soát, đánh giá phát triển giao thông so sánh mục tiêu trong QH1259 với thực tế đến 2021: Tỷ lệ đất giao thông/đất xây dựng là 18-26%. Thực tế Hà Nội chỉ bố trí ngân sách cho Giao thông 7-10% với nhu cầu 100 nghìn tỷ VND/năm (3), do vậy Báo cáo cho biết chỉ tiêu này đạt khoảng 10,07%. Mật độ đường giao thông theo mục tiêu là 10-13km/km2, tuy nhiên thực tế mới đạt khoảng 1,83 km/km2 (15%) (2). Báo cáo không có số liệu cụ thể cho từng loại đường, năng lực khai thác. Dữ liệu Chương trình phát triển đô thị tổng thể Thủ đô Hà Nội (HAIDEP – 2007) cho thấy, trong 10 năm qua, sử dụng tài nguyên đất đai lớn để phát triển đô thị, thực chất là bất động sản thương mại, nhưng nhiều chỉ số giao thông không tăng mà còn giảm. Nhiệm vụ số một của Quy hoạch Thủ đô không chỉ “rà soát” thực tế mà còn rà soát ngay thông tin trong “Báo cáo rà soát”.

Không chỉ vậy mà còn nhiệm vụ “cập nhật và cụ thể hóa” các nội dung của Quy hoạch Thủ đô vào từng lĩnh vực, làm bằng cách nào, được bao nhiêu, tiền ở đâu. Trong 20 năm (2004-2024), Hà Nội có thêm 4 cây cầu mới, thì 3 cái đầu tư bằng vay ODA (Thanh Trì, Nhật Tân, Vĩnh Thịnh), chỉ có cầu Vĩnh Tuy tự thu xếp vốn trong nước. Không chỉ vẽ ra hàng chục tuyến UMRT có tổng chiều dài hàng trăm km để “bắc nước chờ gạo người” mà cần phân tích rõ những dự án đầu tư hàng tỷ USD, thực hiện trong 20 năm mới đạt 14,5%. Quan trọng hơn là phân tích hiệu quả, lợi ích và thiệt hại của nó để đưa ra giải pháp, lộ trình mới để thực hiện 85,5% khối lượng còn lại.

Quy hoạch giao thông Hà Nội đã vẽ ra mạng đường các loại dày đặc mà chỉ thực hiện đạt 10-15 %. Vẽ Quy hoạch mà không rõ nguồn lực thực hiện, giống như chế tạo máy bay mà không có động cơ: to mấy cũng vô đụng, Quy hoạch Thủ đô không thể vẽ theo lối cũ mà cần triển khai với “Tư duy mới – Tầm nhìn mới – Cơ hội mới – Giá trị mới”.

Rà soát đánh giá Quy hoạch và thực hiện Quy hoạch giao thông đô thị Hà Nội. Nguồn: Hanoidata & City Solution

Đất hay Nước liên kết các tỉnh, thành phố kề bên sông Hồng?

Nhiệm vụ giải pháp trọng tâm tiếp theo của Quy hoạch tổng thể Quốc gia là: “Ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện có hiệu quả các dự án hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn mang tính liên vùng, liên tỉnh kết nối các vùng động lực quốc gia. Các chương trình về giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học có tính liên vùng góp phần giải quyết an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn, tôn tạo và phát triển bản sắc văn hóa đa dạng, đặc sắc.” (1)

Sông Hồng chảy từ Lào Cai ra đến biển có hơn chục tỉnh, thành phố nằm bên dòng chính và các chi lưu, có cùng cơ duyên hình thành từ chính huyết mạch giao thông đường thủy, chính là “hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn mang tính liên vùng, liên tỉnh kết nối các vùng động lực quốc gia” đã được xác định trong Báo cáo chuyên ngành: Vận tải Đường thuỷ Nội địa. Sơ đồ hiện trạng và tiềm năng phát triển giao thông thủy đến 2030, trích dẫn từ “Nghiên cứu Toàn diện về Phát triển Bền vững Hệ thống Giao thông Vận tải Việt Nam (VITRANSS 2)” do Bộ Giao thông Vận tải và JICA thực hiện 2010.

Giao thông thủy tạo ra hệ sinh thái liên kết liên vùng; Hành lang Xanh trong QH1259 vẽ ra tiềm năng liên kết đa dạng,đa lợi ích trong hệ sinh thái Hà Nội. Nguồn: Hanoidata & City Solution

Đường thủy nội địa miền Bắc có 18 tuyến chính trên 49 sông, kênh với tổng chiều dài khoảng 3.028 km, công suất vận tải hàng hóa dự kiến đến 2030 đạt 199 triệu tấn/năm (1). Hà Nội là tâm điểm của mạng lưới đường thủy Bắc bộ với 356km trên các sông lớn (Hồng, Đà, Đáy, Công, Cầu), còn 131km các sông nhỏ hơn có thể khai thác vận chuyển du lịch kết hợp thủy lợi, cảnh quan môi trường.

QH  1259 vẽ ra Hành lang Xanh chiếm 70% trong tổng diện tích 3.432km2 trong đó chỉ ra vai trò quan trọng của 9 con sông chảy quanh Hà Nội. Không chỉ lợi thế về đường thủy, mặt nước các sông còn có vai trò trọng yếu đảm bảo cho vùng sản xuất nông nghiệp, riêng trong Hành lang Xanh đang có 2 triệu người, mà còn đảm bảo chu trình tuần hoàn sinh thái cho gần 10 triệu người dân Thủ đô.

Nhận ra tầm quan trọng của đường thủy là vậy nhưng thành phố chưa quan tâm đầu tư phát triển. Kế hoạch đầu tư cho đường thủy tới 2020 chỉ bằng 1% đường sắt và đường bộ (4/470 nghìn tỷ đổng). Thực tế đầu tư cho đường thủy còn thấp hơn nhiều (3).

Báo cáo rà soát đánh giá việc thực hiện QH 1259 sau 10 năm (2011-2021) còn chỉ ra bất cập: “Vận tải đường thủy, đường bộ bị hạn chế do vướng tĩnh không cầu Long Biên và cầu Đuống”. Luật Giao thông đường thủy nội địa quy định “Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định việc phân loại, phân cấp kỹ thuật, tiêu chuẩn cấp kỹ thuật, công bố tuyến đường thuỷ nội địa và quy định việc tổ chức quản lý đường thuỷ nội địa.” (2)

Muốn giao thông thủy trở thành hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn mang tính liên vùng, liên tỉnh kết nối các vùng động lực quốc gia” trách nhiệm của Bộ Giao thông vận tải đã rõ, nhưng muốn tàu chạy trên sông thì sông phải có nước. Liên quan đến nước sông Hồng thì có Bộ Tài nguyên Môi trường (quản lý tài nguyên nước); Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương (nhu cầu sử dụng, điều tiết nước sản xuất nông, công nghiệp); Bộ Xây dựng (phát triển hệ thống đô thị và cấp thoát nước đô thị ven sông); các địa phương… Do vậy, chỉ có Quy hoạch tổng thể Quốc gia mới đủ quyền năng tập hợp các nguồn lực quốc gia để công bố tư liệu đầu vào để các ngành, địa phương dựa vào đó thực hiện.

Trần Huy Ánh – Ủy viên thường vụ BCH, trưởng ban Kiểm tra Hội KTS Hà Nội, thành viên Hội đồng Khoa học tạp chí Kiến trúc VN-Viện Kiến trúc Quốc gia, Bộ Xây dựng

Chú thích

1. https://baochinhphu.vn/chinh-phu-cong-bo-va-trien-khai-quy-hoach-tong-the-quoc-gia-tu-duy-moi-tam-nhin-moi-de-tim-kiem-khong-gian-co-hoi-phat-trien-moi-102230420095641095.htm

2. Báo cáo tóm tắt rà soát đánh giá Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến 2030 tầm nhìn 2050 – QH 1259 – Sở Kiến trúc Quy hoạch – UBND TP Hà Nội 10/2022

3. Quy hoạch Giao thông vận tải Thủ đô Hà Nội đến 2030, tầm nhìn 2050(519/QĐ-TTg-2016)

Ưu tiên chuyển đổi công sở dôi dư thành trung tâm chăm sóc người cao tuổi - Chiến lược an sinh cho thời kỳ già hóa dân số

(KTVN 257) Trong bối cảnh cả nước đang từng bước thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính, dẫn đến dôi dư nhiều trụ sở công quyền, việc sử dụng lại những công trình này không thể chỉ dừng ở tính toán hợp lý về mặt vật chất, mà cần được đặt trong một chiến lược tổng thể, lâu dài và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Trong các phương án chuyển đổi chức năng sử dụng, Nhà nước nên xác định rõ một hướng ưu tiên chiến lược, đó là tận dụng các công sở dôi dư để xây dựng các trung tâm chăm sóc sức khỏe và viện dưỡng lão cho người cao tuổi.

Bài toán nào cho việc chuyển đổi công năng các công sở dôi dư?

(KTVN 257) Sau khi xoá bỏ cấp huyện và sáp nhập tỉnh, ứng xử thế nào với các khu Trung tâm Hành chính của đô thị huyện lỵ và tỉnh lỵ cũ (sau đây gọi tắt là các khu Trung tâm đô thị cũ, viết tắt là khu TTĐT cũ) là một vấn đề rất lớn, được Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền các cấp và nhân dân đặc biệt quan tâm. Đã có nhiều gợi ý, đề xuất mang tính định hướng các phương án ứng xử đối với các công sở nhưng xem ra còn quá nhiều nội dung cần bàn thảo, phản biện xã hội để có thể lựa chọn được phương án tối ưu. Đặc biệt, dường như hầu hết các ý kiến chỉ nêu ứng xử với các công trình công sở với những gợi ý cho từng công trình mà chưa có gợi ý hay đề xuất nào định hướng tương lai cho tổng thể các khu đô thị cũ (KĐT cũ), trong đó các khu trung tâm đã hết vai trò là trung tâm hành chính. Với góc nhìn của người từng nhiều năm làm công tác quy hoạch đô thị, tôi xin góp một vài ý kiến, trên cơ sở lấy thực tế tại tỉnh Bắc Ninh.

Tránh lãng phí trụ sở sau sắp xếp - cần ứng dụng công nghệ trong quản lý tài sản

(KTVN 257) Trong thế kỷ XXI, thế giới đã phát triển nhanh, làm ra nhiều của cải, nhưng thế giới còn phát triển nhanh hơn trong công nghệ quản lý tài sản (cả công lẫn tư) gọi chung là công nghệ Quản lý cơ sở vật chất (FM - Facilities Management). Toàn bộ tài sản được mô tả trên hệ thống thông tin địa lý số hóa (GIS - Geographic Information System) bao gồm thông tin định vị trên bản đồ vệ tinh, các thông số kỹ thuật, định giá trị vật lý và phi vật lý của tài sản… Chúng ta cần tận dụng các công kỹ nghệ mới để thống kê, rà soát, kiểm đếm tài sản. Từ hồ sơ hiện trạng chi tiết đó, chúng ta sẽ nhận diện được những điểm mạnh, yếu của tài sản mà khai thác tối ưu vào các chức năng mới.

Trụ sở cũ - Bài toán mới

(KTVN 257) Việc sáp nhập hàng nghìn đơn vị hành chính cấp xã, huyện và cấp tỉnh không chỉ giúp tinh gọn bộ máy mà còn đặt ra một bài toán lớn: xử lý hàng loạt trụ sở hành chính cũ không còn sử dụng đúng chức năng. Đây không chỉ là câu chuyện về quản lý tài sản, mà còn phản ánh năng lực thể chế, tầm nhìn quy hoạch và trách nhiệm sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Nếu được nhìn nhận đúng và xử lý bài bản, những trụ sở dôi dư hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực phát triển mới cho cộng đồng, thay vì bị bỏ ngỏ trong sự chờ đợi và lúng túng.

Tiêu chí đánh giá và phương pháp áp dụng công trình hành chính dôi dư sau sáp nhập: Hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả xã hội

(KTVN 257) Mỗi công trình hành chính dôi dư không phải là một khối tài sản vô tri, mà là một phần trong đời sống đô thị. Nếu không có con người sử dụng, không có mục tiêu phục vụ rõ ràng, thì giá trị của công trình sẽ hao mòn theo thời gian. Mỗi quyết định chuyển đổi, dù là giữ nguyên chức năng, thay đổi chức năng hay giao cho tổ chức khác quản lý, đều phải xuất phát từ đánh giá cụ thể về bối cảnh không gian, nhu cầu sử dụng thực tế và năng lực vận hành lâu dài. Mọi mô hình nên được xây dựng trên cơ sở thử nghiệm, đo lường, phản hồi, điều chỉnh - chứ không thể quyết định theo cảm hứng, thói quen hay áp lực hình thức.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Hưng Thịnh Land
Vinmikh