Quy hoạch Sông Hồng cần đủ thông tin và có giải pháp khả thi để đóng góp tích cực cho Phát triển Thủ đô

(Vietnamarchi) - Sáng 23/5, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội tổ chức Tọa đàm khoa học “Gợi ý giải pháp phát triển Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” nhằm nghiên cứu cụ thể trường hợp trục sông Hồng, đưa ra các sáng kiến đổi mới sáng tạo, đô thị thông minh, tăng trưởng xanh và liên kết đô thị nông thôn. Tác giả ghi lại ý kiến đã chia sẻ tại Tọa đàm.
11:48, 29/05/2023

Quy hoạch phân khu sông Hồng: những nội dung còn bỏ ngỏ

Đại diện Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội đã giới thiệu về Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng được UBND Thành phố Hà Nội phê duyệt vào tháng 3/2022. Về định hướng quy hoạch, phân khu đô thị sông Hồng có chức năng chính là không gian thoát lũ sông Hồng đoạn qua khu vực đô thị trung tâm được xác định tại Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Đồng thời, đây cũng được quy hoạch là trục không gian đặc trưng cây xanh mặt nước, văn hóa lịch sử, cảnh quan chủ đạo của đô thị trung tâm, với chức năng chính là công trình công cộng, công viên cây xanh, văn hóa, dịch vụ du lịch, giải trí biểu tượng của Thủ đô.

Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng (HUPI) thiếu tư liệu về nước sông Hồng

Tại tọa đàm, các nhà khoa học cũng đưa ra các gợi ý để phát triển không gian hai bên bờ sông nhằm khai thác tối ưu, tương xứng với tiềm năng, quỹ đất hiện có một cách bền vững, tôn trọng thiên nhiên, thuận theo các dòng chảy của sông Hồng, hạn chế bê tông hóa và không chất tải hạ tầng quá lớn hai bên bờ sông.

Quy hoạch HUPI vẽ ra viễn cảnh đô thị bên sông nhưng không có tư liệu lịch sử, lũ lớn sông Hồng (Nguồn: Trần Quốc Vượng, Risques d’inondation dans le delta du fleuve Rouge. De la nécessité d’améliorer leur prise en compte dans le processus d’aménagement du territoire – Olivier Gilard – 2006)

Bên cạnh những đề xuất, gợi ý cách tiếp cận thông minh, kết nối sáng tạo thì cũng cần đặt ra câu hỏi: lập quy hoạch phát triển đô thị bên sông cần biết rõ sông có bao nhiêu nước, dòng chảy hiện tại và tương lai thế nào? Khi nước cạn dần, lưu vực sông Hồng – Thái Bình không còn bị đe dọa bởi lũ lụt thì có phải đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn và ô nhiễm nước hay không? Trước thách thức của thời tiết cực đoan, ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu toàn cầu… thì 40km Sông Hồng chảy qua trung tâm thành phố có vai trò gì trong dòng sông dài 1.149 km, trong đó 510 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam?

TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội cho biết từ 1954 đến nay đã qua 7 lần quy hoạch chung Hà Nội đều có đề cập đến sông Hồng với tầm vóc, vị thế riêng. Nếu các lần quy hoạch trước, không gian sông Hồng là không gian cảnh quan nhưng ở vị thế vùng biên nội đô, thì đến quy hoạch được duyệt năm 2011 đã nâng tầm thành trục không gian cảnh quan trung tâm của Thủ đô. Việc nghiên cứu sông Hồng trong quy hoạch Hà Nội đã được triển khai từ năm 1992 trong điều kiện rất thiếu tư liệu… Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội đã lập Quy hoạch 4km (qua phường Tứ Liên), nhưng không xong vì còn nhiều ý kiến khác nhau. Đây cũng là băn khoăn của TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm từ năm 2017, khi trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong “Khó khăn lớn nhất hiện nay là chưa có số liệu chính xác liên quan đến lưu lượng xả lũ ở 7 đập ngăn trên thượng nguồn sông Hồng (thuộc Trung Quốc – PV) nên cần phải nghiên cứu, nếu họ xả lũ sẽ rất nguy hiểm.” (*)

Quy hoạch HUPI vẽ ra viễn cảnh công viên sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao nhưng không có giải pháp bảo vệ nguồn nước, chống hạn, ô nhiễm nước; Ảnh Sông Nhuệ 2022, đập Đáy lấy nước sông Hồng vào; Nạo vét sông Nhuệ Thế kỷ 20

Thực tế tài liệu liên quan đến sông Hồng không thiếu: Các kỹ sư Địa lý – Thủy lợi Pháp đã khảo sát từ năm 1886 đến 1926. Năm 1905, Nha Địa dư Đông Dương hoàn tất Bản đồ địa hình/thủy hệ làm cơ sở để Nha Công chính thiết kế, thi công từng phần hệ thống đê điều từ năm 1917 đến 1922. Trước 1885 đã có 22 triệu m3 đê sông Hồng – Thái Bình, sau 55 năm (1886-1941) đắp thêm 305 triệu m3; Từ 1941 đến nay đắp thêm hơn 10 triệu m3. Tư liệu thủy văn, thủy lợi, nông nghiệp, thương mại… của vùng châu thổ sông Hồng do các nhà khoa học địa lý nhân sinh, kinh tế – xã hội bằng tiếng Việt và tiếng Pháp lưu tại các cơ quan lưu trữ Việt Nam và quốc tế. Bản đồ giấy chú giải bằng tiếng Pháp và tiếng Anh phong phú, bản đồ không ảnh, ảnh vệ tinh phân giải cao được cập nhật liên tục… tiếp cận dễ dàng với mọi người, nhưng rất khó khăn đối với ai không có kỹ năng công nghệ thông tin và ngoại ngữ. Quan trọng là dùng tư liệu để lập trình tương lai thành phố bên sông với mục tiêu khai thác đất bãi lộ ra do cạn nước để kinh doanh BĐS hay đảm bảo an ninh nguồn nước cho Hà Nội, vùng châu thổ và cả quốc gia ?

Nước sạch từ sông Hồng tạo ra tương lai Hà Nội Xanh

Nhu cầu dùng nước/nguồn nước của lưu vực sông Hồng – Thái Bình và các lưu vực khác trong Báo cáo “Việt Nam: hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn”, Ngân hàng Thế giới (WB-2019) (Ảnh minh họa của Hanoidata)

Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” được Bộ TNMT công bố 12/2022 cho biết: Tổng lượng nước lưu vưc sông Hồng – Thái Bình là 148,3 tỷ m3, trong đó nội nguồn là 100 tỷ m3, ngoại nguồn là 48,3 tỷ m3. Nhu cầu dùng nước của lưu vực hiện tại là 25,8 tỷ M3; tăng lên 28 tỷ m3 (2025); 28,2 tỷ m3 (2030) và 31,3 tỷ M3 (2050). Tổng dòng chảy mùa lũ 111,6 tỷ; mùa cạn 36,7 tỷ m3; Trong 3 tháng kiệt 9,0 tỷ m3; Tháng kiệt nhất 2,8 tỷ m3. Quy hoạch đã chỉ ra như cầu dùng nước tăng trong khi nguồn nước giảm. Chênh lệch 2 mùa lũ cạn lớn nhưng không có giải pháp khắc phục cụ thể.

Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng chỉ vẽ ra những viễn cảnh đô thị bên sông phát triển trên các khu đất lộ ra sau khi nguồn nước sông Hồng cạn dần, hoặc vẽ ra các không gian cây xanh sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao nhưng không có giải pháp cấp nước cho các sông Nhuệ, Đáy, Tô Lịch, Bắc Hưng Hải để phục hồi sông cạn kiệt, ô nhiễm đang gia tăng hàng ngày.

Nghị quyết Số 15-NQ/TW về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” xác định Hà Nội là “Trung tâm đầu não chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước”.

Nghị quyết 30-NQ/TW về “Phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đề ra nhiệm vụ cụ thể “Có biện pháp để cải thiện, phục hồi chất lượng môi trường nước tại lưu vực các sông Nhuệ, Đáy, Bắc Hưng Hải… Tăng nhanh tỉ lệ dân cư được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn. Giải quyết kịp thời các vấn đề môi trường cấp bách tại thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng và các đô thị khác, nhất là rác thải, khí thải, ô nhiễm nước các sông trong nội đô, đặc biệt là sông Tô Lịch; khẩn trương khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn, nhất là các làng nghề; kiên quyết di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu vực nội thành, khu vực đông dân cư. 

Xây dựng, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia để định hướng vị trí, quy mô các khu xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại tập trung cấp vùng; đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút đầu tư phát triển các khu xử lý rác thải, nước thải và phục hồi các dòng sông bị suy thoái, cạn kiệt.”

Bám sát mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết Số 15-NQ/TW; thực hiện nhiệm vụ trong Nghị quyết Số 30-NQ/TW, khắc phục các nội dung còn thiếu sót trong các bản quy hoạch trước, trọng trách dồn lên vai “Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

Quy hoạch Thủ đô không chỉ đưa ra giải pháp mà cần thiết đề xuất tổ chức thực hiện, nguồn lực đầu tư và tiến độ cụ thể… để tránh đi vào vết xe đổ như “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ – sông Đáy”, mât 4 năm (2008-2012) mới xây dựng nhiệm vụ mà chưa lập xong quy hoạch. Không có bản đồ tác chiến nên 12 năm (2008-2020) “chiến đấu” với nạn ô nhiễm mà không có lộ trình cụ thể, giải pháp mơ hồ, đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng mà sông ô nhiễm trầm trọng hơn.

Hy vọng với ngân sách đầu tư 119 tỷ đồng để lập quy hoạch Thủ đô, bản quy hoạch sẽ đạt chất lượng xứng đáng – là kịch bản khả thi để phát triển Thủ đô Xanh, Văn hiến, Văn minh, Hiện đại.

Trần Huy Ánh – Ủy viên thường vụ, Trưởng ban Kiểm tra Hội KTS Hà Nội; Thành viên Hội đồng khoa học Tạp chí Kiến trúc Việt Nam – Viện Kiến trúc Quốc gia – Bộ Xây dựng

https://qhkt.hochiminhcity.gov.vn/ban-tin-quy-hoach/quy-hoach-hai-ben-song-hong-can-lang-nghe-phan-bien-593.html

Phòng ngừa cháy nổ trong công trình lắp đặt trạm sạc xe điện: Điều kiện hiện tại, rủi ro và các giải pháp tích hợp

(KTVN 262) Thực trạng công tác phòng ngừa cháy trong lắp đặt trạm sạc xe điện phản ánh một nghịch lý. Một mặt, hạ tầng sạc EV đã mở rộng nhanh chóng và ngày càng được công nhận là một thành phần thiết yếu của giao thông ít phát thải carbon, hệ thống năng lượng thông minh và các chiến lược phát triển bền vững đô thị [1, 22]. Mặt khác, sự phát triển thực tế của công tác phòng ngừa cháy không phải lúc nào cũng theo kịp tốc độ triển khai hạ tầng, đặc biệt liên quan đến sạc công suất cao, hành vi cháy liên quan đến pin, giám sát thông minh và khả năng chống chịu mạng - vật lý. Kết quả, ngày nay nhiều cơ sở sạc đang vận hành trong một môi trường an toàn mang tính chuyển tiếp: chúng có thể đáp ứng các yêu cầu thiết kế điện truyền thống, nhưng vẫn thiếu kiến trúc phòng ngừa cháy tích hợp cần thiết cho các rủi ro vận hành mới.

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

(KTVN 262) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng cấp bách, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí metal của ngành giao thông vận tải, định hướng phát triển hệ thống giao thông vận tải xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050.Quá trình đô thị hóa nhanh, dân số trẻ, tăng trưởng kinh tế ổn định và nhu cầu giảm ô nhiễm không khí là những động lực chính thúc đẩy chuyển đổi sang xe điện. Không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia trong khu vực đã cam kết giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy kinh tế xanh, tạo nền tảng chính sách thuận lợi cho phát triển phương tiện giao thông điện.

Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

(KTVN 262) Trước thực trạng phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, khó lường, phương tiện giao thông điện (EV, e-bike, e-motorbike) xuất hiện như một lựa chọn hàng đầu cho mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Nhưng cùng với những thế mạnh của chúng, các vụ cháy đã xảy ra trên thế giới và Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp bách về đảm bảo an toàn cháy cho các công trình, đặc biệt tại các khu vực không gian kín như tầng hầm nhà cao tầng hay khu dân cư. Để giải quyết những rủi ro này, cần có một cách tiếp cận toàn diện bao gồm các biện pháp kỹ thuật và quản lý, từ đánh giá rủi ro khác biệt đến các cơ chế an toàn xuyên suốt. Tham luận đánh giá thực trạng hạ tầng và khoảng trống pháp lý tại Việt Nam, phân tích các định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy (PCCC) cần thiết để ứng phó hiệu quả với những rủi ro cháy nổ liên quan đến khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe trong các tầng hầm nhà chung cư và khu dân cư tại Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và đặc thù trong nước, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách về kỹ thuật, quản lý và vận hành nhằm đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

(KTVN 262) Sự chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe chạy nguyên liệu hóa thạch sang xe chạy điện là xu thế tất yếu của giao thông xanh, quá trình chuyển đổi này hiện đang diễn ra nhanh chóng, tạo ra những thách thức không nhỏ đối với hệ thống hạ tầng đô thị, trong đó đặc biệt là thách thức đối với hạ tầng bến, bãi đỗ xe tại các đô thị ở nước ta. Một ví dụ điển hình là vấn đề “Hạ tầng xe điện và chung cư, nhà ở cao tầng” đang trở thành một trong những điểm nóng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ hạ tầng kỹ thuật đô thị, tập trung vào các vấn đề về quy hoạch không gian, các vấn đề về kỹ thuật đối với bến, bãi đỗ xe, trạm sạc để đáp ứng nhu cầu đặt ra của quá trình chuyển đổi phương tiện giao thông sang xe điện.

Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ cần cách tiếp cận đồng bộ

(KTVN 262) Sự gia tăng của xe điện trong các đô thị lớn đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích ứng của hạ tầng kỹ thuật và hệ thống quản lý. Điều này tạo ra một khoảng trống mà trong đó, rủi ro không đến từ bản thân công nghệ, mà đến từ sự thiếu đồng bộ giữa phát triển phương tiện và tổ chức không gian đô thị.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh