Hành nghề kiến trúc trong mối quan hệ kiến trúc và quy hoạch?

(Vietnamarchi) - Trong thời đại mới, tư duy kiến trúc công trình ngày càng gắn liền hơn và không thể tách rời với tư duy quy hoạch, đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần giúp hình thành những hình thái và xu hướng kiến trúc mới cho tương lai.
14:00, 25/06/2024

Kiến trúc và quy hoạch, từ việc là hai lĩnh vực thiết kế riêng biệt với đào tạo sâu chuyên ngành, đang ngày càng rút ngắn khoảng cách và hòa làm một với nhau, đòi hỏi nhà KTS của tương lai phải nắm vững những kiến thức quan trọng của cả hai lĩnh vực.

Trong đó: Những tổ hợp công trình nhà chọc trời đa chức năng thể hiện sự phát triển đô thị với nhiều khu chức năng không theo chiều ngang như trước, mà theo chiều thẳng đứng; Những công trình xanh, dù là được phủ cây xanh, hoặc không có cây xanh nào, thể hiện việc tìm tòi những giải pháp ứng phó trước tình hình thiếu không gian xanh trong đô thị, nhu cầu tiết kiệm năng lượng, hoặc nguy cơ biến đổi khí hậu; Những bản thiết kế kiến trúc có thể bị phản đối mạnh mẽ và trở nên không khả thi ngay từ đầu, nếu dựa trên nền tảng của các quy hoạch sai lầm thiếu bền vững, bất chấp các giá trị di sản và thiên nhiên của địa phương… Tất cả những thay đổi như thế đã và đang góp phần quan trọng trong việc hình thành bộ mặt ngày càng năng động và đa dạng của đô thị tương lai.

Một ví dụ rất rõ là quá trình phát triển kiến trúc công trình y tế đã và đang có những thay đổi lớn về tư duy thiết kế và mục tiêu phục vụ cộng đồng; Trong đó ngày càng yêu cầu trình độ cao của KTS về kiến thức cũng như tư duy quy hoạch, để phối hợp với giải pháp kiến trúc, cũng như thấy được vai trò và tầm quan trọng ngày càng gia tăng của tư duy quy hoạch đối với kiến trúc tương lai.

Công trình xây dựng trên đèo Mã Pì Lèng (Hà Giang)
Công trình xây dựng trên đèo Mã Pì Lèng (Hà Giang)

Tương tự, chúng ta có thể tiếp tục xem xét nhiều ví dụ khác, đã từng được dư luận rất quan tâm gần đây như:

(1) Có nên xây dựng mới một công trình hiện đại cao tầng trong không gian khu lõi trung tâm lịch sử có lịch sử vài trăm năm đến hàng ngàn năm của một thành phố, như TPHCM và Hà Nội?

(2) Có nên chặt toàn bộ cây cổ thụ để xây dựng các công trình hiện đại làm điểm nhấn kiến trúc trên các đỉnh đồi của thành phố du lịch nghỉ dưỡng thơ mộng Đà Lạt?

(3) Kiến trúc nào, phong cách nào, và quy mô nào là phù hợp cho vị trí đã xây dựng công trình tại không gian thiên nhiên di sản Mã Pì Lèng, được dư luận cả nước quan tâm?

Có dịp đi sâu phân tích rõ từng câu hỏi trên, chắc chắn chúng ta sẽ thấy nhu cầu cần thiết cần có trong mối quan hệ hành nghề kiến trúc và quy hoạch.

Đồi dinh tỉnh trưởng ở Đà Lạt
Đồi dinh tỉnh trưởng ở Đà Lạt

Điều đó cũng đặt ra cho công tác đào tạo và quản lý hành nghề kiến trúc trong thời gian tới rất cần được đổi mới tư duy, thông qua các việc:

  • Tương lai của ngành kiến trúc không thể tách rời với kiến thức tổng hợp về quy hoạch, bởi vì khi một dự án quy hoạch đã đi sai hướng, thì các đề xuất phương án kiến trúc sau đó, dù có làm thế nào cũng vẫn sai và không khả thi. Do đó, một mặt nhà kiến trúc không những cần phải học hỏi nghiên cứu thêm kiến thức quy hoạch tổng hợp với tư duy đa ngành; Mặt khác, nhà kiến trúc còn phải cẩn trọng tham vấn, cộng tác với các chuyên gia về quy hoạch ngay từ những bước đầu của dự án, để sớm xác định những yếu tố quan trọng hàng đầu về quy hoạch, có thể tác động không nhỏ đến mục tiêu nghiên cứu kiến trúc.
  • Việc đào tạo KTS cần được chấn chỉnh lại để KTS tốt nghiệp có được kiến thức cơ bản về quy hoạch, và thói quen hợp tác nhóm theo tư duy đa ngành. Nên tổ chức lại theo hướng đào tạo 4 năm cử nhân, 2 năm thạc sĩ, và 3-5 năm tiến sĩ. Trong đó, sinh viên tốt nghiệp với văn bằng 4 năm gọi là cử nhân kiến trúc hoặc cử nhân quy hoạch, văn bằng 2 năm tiếp theo gọi là thạc sĩ kiến trúc hoặc thạc sĩ quy hoạch (không nên dùng tên gọi “bằng KTS” để không mâu thuẩn với việc phải thi đậu chứng chỉ hành nghề mới được gọi là KTS).
  • Khung đào tạo phải giúp sinh viên kiến trúc có được các kiến thức quan trọng về quy hoạch theo tư duy mới, có cơ hội tham gia ít nhất một studio học kỳ đa ngành (Kiến trúc – Quy hoạch – Xây dựng…) để quen với tư duy đa ngành và hợp tác nhóm. Thời gian đào tạo 4-5 năm hiện không đủ để làm việc đó. Cải tổ này sẽ phù hợp với thông lệ quốc tế của đa số trường kiến trúc tại các nước tiên tiến hiện nay.
  • Việc quản lý Chứng chỉ hành nghề cũng cần điều chỉnh tương ứng. Cấp thạc sĩ phải là cấp tối thiểu để xin dự thi Chứng chỉ hành nghề KTS, bởi vì việc hành nghề KTS sẽ gặp khó khăn nhiều với sự giới hạn của trình độ cử nhân. Việc thi Chứng chỉ hành nghề KTS phải có những câu hỏi kiến thức cơ bản về quy hoạch. Riêng các KTS đã có chứng chỉ hành nghề trước khi quy định này có hiệu lực thì không yêu cầu phải lấy bằng thạc sĩ nữa, để không có sự xáo trộn về hành nghề (xem như thâm niên hành nghề nhiều năm và việc tự đào tạo liên tục trong thời gian hành nghề đã có thể bù vào). Cải tổ này sẽ phù hợp với thông lệ quốc tế của việc hành nghề KTS tại các nước tiên tiến hiện nay.
Bùng nổ xây dựng công trình cao tầng khu vực trung tâm Quận 1, TPHCM
Bùng nổ xây dựng công trình cao tầng khu vực trung tâm Quận 1, TPHCM

Các tiêu chí thiết kế có liên quan đến quy hoạch (về quy mô, vị trí, yêu cầu mỹ thuật và kỹ thuật, nguyên tắc ứng xử với không gian và công trình xung quanh,…) của các công trình kiến trúc quan trọng trong đô thị rất cần được nêu rõ và thông qua ngay từ đầu tự án trong nhiệm vụ thiết kế được phê duyệt, với sự phản biện của các chuyên gia đa ngành, để hướng dẫn cho việc thực hiện các dự án kiến trúc, tránh việc các phương án kiến trúc trở nên bất khả thi ngay từ giai đoạn đầu thiết kế, do dựa trên các tư duy sai lầm về quy hoạch./.

Những vấn đề thực tiễn trong ứng dụng khoa học công nghệ cho xây dựng nhà ở hiện nay

(KTVN 259+260) Bài viết, với hai góc nhìn chuyên môn từ kiến trúc và kỹ thuật, sẽ đưa ra một số vấn đề thực tiễn về ứng dụng khoa học - công nghệ trong xây dựng, đặc biệt trong lĩnh vực nhà ở xã hội (NƠXH) và nhà ở nông thôn mới. Sự bổ sung lẫn nhau giữa tư duy sáng tác của một Kiến trúc sư và các giải pháp công nghệ - kỹ thuật của một Kỹ sư mang đến những trải nghiệm đa chiều trong quá trình phát triển các mô hình NƠXH và nhà ở cho người thu nhập thấp, nơi mục tiêu vừa là bảo đảm chất lượng không gian sống, vừa nâng cao hiệu quả đầu tư và tính khả thi trong triển khai.

Hướng tới mô hình nhà ở xã hội tại Việt Nam

(KTVN 259+260) Ngày 3/4/2023, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030". Chất lượng ở trong các căn hộ vốn nhỏ bé nhất từ 25 đến 70m2 sẽ như thế nào? Chúng ta liệu vẫn cứ để người dân tự “xoay sở” trong những căn phòng chật hẹp đa phần thiếu thông thoáng chiếu sáng tự nhiên? Thiết kế nhà ở xã hội (NOXH) nói riêng và nhà ở nói chung nhất thiết phải chú trọng việc tổ chức không gian nội thất, các điều kiện tiện nghi và chất lượng cuộc sống chủ yếu đạt được khi nội thất từng không gian chức năng được đảm bảo. Với các căn phòng chật hẹp ở mức tối thiểu thì giải pháp thiết kế đồ đạc nội thất, tận dụng không gian và khả năng linh hoạt hoá có tính chất quyết định đến chất lượng ở. Mô hình NOXH mà hạt nhân là những căn hộ phải được tiếp cận từ trong ra ngoài - từ không gian nội thất.

Thực trạng thiết kế & xây dựng NOXH tại Việt Nam - Những vấn đề đặt ra trong thiết kế, công nghệ kỹ thuật và vật liệu xây dựng theo hướng Contech

(KTVN 259+260) Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng 1 triệu căn nhà ở xã hội (NOXH) đến năm 2030 nhằm đáp ứng nhu cầu của người thu nhập thấp và công nhân. Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp phải “tam giác bất khả thi” giữa tốc độ, chi phí và chất lượng. Bài báo này phân tích những hạn chế cốt lõi trong thiết kế, công nghệ, vật liệu và nội thất của NOXH hiện nay, đồng thời đề xuất giải pháp ứng dụng công nghệ xây dựng (ConTech) để tối ưu hóa chi phí, nâng cao tốc độ thi công và đảm bảo tiện nghi sử dụng. Qua đó, nhấn mạnh vai trò của công nghiệp hóa xây dựng và chính sách hỗ trợ trong việc hiện thực hóa mục tiêu quốc gia.

Phát triển đô thị và nông thôn, mối liên hệ song hành hướng tới bền vững

(KTVN 258) Quá trình phát triển đô thị và nông thôn tại Việt Nam đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, đặt ra yêu cầu cấp bách về nghiên cứu mối quan hệ song hành giữa hai khu vực này. Việc phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và dữ liệu về quá trình đô thị hóa - nông thôn mới tại Việt Nam, đồng thời làm rõ mối liên kết trong các lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch, giao thông, văn hóa và giá trị xã hội trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, đặc biệt trong bối cảnh nhiều đơn vị hành chính cấp huyện, xã được sáp nhập, sự tương tác đô thị - nông thôn càng trở nên chặt chẽ và đa chiều hơn. Từ đó, đề xuất định hướng phát triển song phương, bảo đảm sự cân bằng, hài hòa và bền vững. Kết quả cho thấy việc coi đô thị và nông thôn là hai không gian phát triển bổ trợ lẫn nhau thay vì đối lập là con đường tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tái cấu trúc hành chính sau sáp nhập.

Những đổi mới trong xi măng và bê tông giúp xây dựng bền vững hơn

(KTVN 258) Nhu cầu giảm lượng khí thải carbon của ngành xây dựng và sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên nguyên sơ là vấn đề cấp bách nhất mà ngành này đang phải đối mặt. Do đó, việc thúc đẩy đổi mới để cải thiện vật liệu xây dựng hiện có và làm cho chúng thân thiện với môi trường là vô cùng quan trọng, nhằm giải quyết thành công lượng khí thải carbon đáng kể và khép kín vòng tuần hoàn vật liệu.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh