Đường sắt đô thị trong Quy hoạch Thủ Đô sẽ làm Hà Nội tăng tốc phát triển

(Vietnamarchi) - Sau 20 năm triển khai các dự án đường sắt đô thị (ĐSĐT) tại Hà Nội, mục tiêu giải quyết căn bản cho việc đi lại của cư dân Thủ đô không như mong đợi, vậy trong Quy hoạch Thủ đô tương lai của các dự án này sẽ ra sao?
11:54, 12/06/2023

Trong 12 năm triển khai 600km đường sắt đô thị (ĐSĐT) là bất khả thi

Phát biểu tại hội trường Quốc Hội ngày 31/5, đai biểu Nguyễn Phi Thường, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Hà Nội, cho biết với cách thức triển khai như hiện nay, việc hoàn thành gần 600km ĐSĐT còn lại tại hai thành phố lớn trong vòng 12 năm là bất khả thi. Để giải quyết bài toán khó về phát triển đô thị, cần triển khai mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng TOD (Transit Oriented Development). Trong đó, lấy đầu mối giao thông công cộng thường là các nhà ga đường sắt để tích hợp các chức năng sử dụng khác như: khu nhà ở, văn phòng tài chính, thương mại và khu vực bên trong các nhà ga và xung quanh ga trong phạm vi bán kính tối đa 800m cho đến 1km, tương đương chỉ 10-15 phút để người dân đi bộ đến nhà ga… sẽ giảm ùn tắc giao thông, tăng số lượng hành khách sử dụng phương tiện giao thông công cộng, tăng giá trị đất xung quanh các nhà ga. Đồng thời, giảm gánh nặng cho Nhà nước, khuyến khích sự sáng tạo của khu vực tư nhân… Đây là những ích lợi không thể phủ nhận và được đúc kết qua thực tiễn triển khai ở nhiều nước trên thế giới.

Sơ đồ 5 tuyến ĐSĐT Hà Nội trong nội dung của Chương trình phát triển đô thị tổng thể Thủ đô Hà Nội (HAIDEP), công bố đầu tiên năm 2007, có tổng chiều dài 114km về cơ bản là vẽ chồng 30km đường sắt quốc gia và hơn 40km của 6 tuyến tàu điện Hà Nội đã xây từ 1900 và dỡ bỏ hoàn toàn 1990, có kéo dài thêm, đổi sang đi ngầm và trên cao xuyên qua các đường phố đông đúc. Từ đầu thế kỷ 20, để bù lỗ cho xây đường tàu đắt tiền, Thành phố đã bán rẻ đất hai bên đường tàu cho nhà đầu tư xe điện. Thành phố thu lợi từ việc thu thuế kinh doanh thương mại dịch vụ phát triển vì tàu chạy tới đâu, phố phường dày đặc hình thành theo đó. Sang thế kỷ 21, đất quanh đường và ga ĐSĐT không còn.

Năm 2016, Quy hoạch Giao thông vận tải Hà Nội vẽ thêm nhiều tuyến ĐSĐT, tổng chiều dài 413km, đặt mục tiêu 2020 có 194km. Tuy nhiên, đến 2023 mới vận hành tuyến 2A dài 13,5km, đạt 7% mục tiêu (13,5/194 km). Các tuyến ĐSĐT không tính đến định hướng TOD, như tuyến số 5 (Văn Cao – Hòa Lạc) dài gần 40km, khái toán 65,4 nghìn tỷ (3 tỷ USD)… nhưng vị trí ga đầu cuối và dọc tuyến đã giao đất làm đô thị trước đó hàng chục năm, không còn không gian phát triển TOD. Nghiên cứu của JICA phân tích “ Tỉ lệ hoàn vốn… tính toán được là âm do chi phí đầu tư lớn và doanh thu từ giá vé không đủ” do vậy không nên làm ĐSĐT tuyến này(*). Thực tế các nhà đầu tư trong, ngoài nước không mặn mà. Soi chiếu với các điều kiện lựa chọn đầu tư loại hình vận chuyển nhanh khối lượng lớn trong đô thị (UMRT – Urban Transport Mass Rapid Transit) của Ngân hàng Thế giới cho thấy với giá thành đầu tư/số lượng khách dự báo/không gian đô thị phát triển định hướng TOD thì toàn bộ đề xuất 243km ĐSĐT cần phải điều chỉnh, tính lại.

Những tuyến UMRT nào có tính khả thi cao trong 10 năm tới?

Bản đồ hiện trạng UMRT Hà Nội có 1 tuyến ĐSĐT và 1 tuyến BRT hoạt động + 1 tuyến ĐSĐT đang thi công. City Solution đề xuất tập trung thực hiện 3 tuyến kết nối trước 2025. So sánh với Quy hoạch UMRT đã phê duyệt 2016 nhưng không khả thi.

Tuyến ĐSĐT Cát Linh – Hà Đông hành khách đi lại hàng ngày đạt 10-15%, công suất, ngày đông nhất (2/9/2022) cũng mới đạt 30% (55.000/181.000 lượt đi). Cho dù phải hỗ trợ 400 tỷ/năm thì tuyến đường này vẫn phải lăn bánh hàng ngày. Tuyến BRT Kim Mã – Yên Nghĩa dẫu vắng mấy thì vẫn duy trì nhằm kết nối liên tuyến. Tuyến số ĐSĐT Nhổn – Ga Hà Nội dù tăng vốn nhiều lần, lùi tiến độ tới 2027 nhưng sớm muộn cũng phải lăn bánh, và để 3 tuyến này hoạt động hiệu quả thì không có cách nào hơn là kết nối thành mạng lưới thì mới gom đủ số khách sử dụng vượt khỏi mốc tối thiểu. Câu hỏi đặt ra là những tuyến đường nào có thể sẵn sàng đảm trách nhiệm vụ trọng yếu này?

City Solution đề xuất kết hợp gia cường, phục hồi nguyên dạng cầu Long Biên với tăng làn đường săt, chạy trên cao để không xung đột với đường bộ trong phố, phát triển TOD tại các nhà ga, tạo ra một tuyến phố thương mại dịch vụ mới… Ưu tiên đầu tư 6km nối ga Gia Lâm tới ga Hà Nội.

Tuyến Yên Viên – Ngọc Hồi dài gần 30km với khổ đường đôi lồng 1.000mm và 1.435mm, hàng ngày có hàng chục tuyến tàu vào ra ga Hà Nội. Dự án ĐSĐT cũ đã tồn tại quá nhiều bất ổn nên cần đổi mới và chia làm nhiều bước thực hiện nhằm phát huy tối đa nội lực, chủ động thực hiện.

Nối dài 7,5km tuyến đường sắt ngầm số 3 từ ga Hà Nội, vượt sông Hồng bằng cầu ngầm Trần Hưng Đạo (gồm cầu đường bộ và đường sắt ngầm) rồi chạy trên cao tới ga Gia Lâm. Khai thác các không gian ngầm nội đô làm thương mại, đỗ xe, sông ngầm, bể trữ nước ngầm, đường dây đường ống.

Thi công 7,5km cầu trên cao Nam Thăng Long đến Hoàng Quốc Việt (đã sẵn đất sạch), nối tiếp tới ga Kim Mã để kết nối với tuyến Nhổn – Ga Hà Nội. Tiếp đó là 15km đường trên cao ven đê sông Hồng, kết nối vòng với tuyến Cát Linh – Hà Đông. Đường trên cao kết cấu bê tông cho 2 làn ĐSĐT, trước mắt chạy Bus điện chi phí thấp (10 triệu USD/1km) khi tích tụ đủ lượng khách và vốn đầu tư chuyển sang đường sắt nhẹ. Tổng đầu tư xây lắp cho 3 tuyến lên tới 3,5-4 tỷ USD nhưng khả năng thu hút đầu tư xã hội lớn bởi sự hấp dẫn của các không gian đô thị do dự án tạo ra.

Đường trên cao chạy 2 làn Bus điện – có thể chuyển đổi thành ĐSĐT theo khuyến nghị của Ngân hàng thế giới về các điều kiện đầu tư UMRT. Kết hợp ĐSĐT với phát triển không gian thương mại dịch vụ mới và tích hợp chống úng ngập đô thị (đề xuất của City Solution)

Có thêm 60km của 3 tuyến trên kết nối vòng tròn với 25km đường sắt đã chạy, đang thi công, cộng với 15km BRT, Hà Nội sẽ sớm có mạng lưới UMRT với tổng chiều dài 100 km, vừa xuyên tâm vừa kết nối vòng tròn, cùng với hàng ngàn xe Bus các loại, tạo ra hệ thống giao thông công cộng đủ mạnh, đáp ứng 3-4 triêu lượt di chuyển mỗi ngày. Quan trọng nhất là hướng tuyến mới tận dụng mặt bằng sạch hiện có nhưng lại tạo ra cơ hội mới để lập trình TOD, khả thi cao, phát huy tối đa nội lực, bao gồm tài chính đầu tư và công kỹ nghệ, tích hợp đa ngành phù hợp với mục tiêu của việc lập Quy hoạch Thủ đô để Hà Nội ta tăng tốc phát triển.

Trần Huy Ánh, Ủy viên thường vụ, Trưởng ban Kiểm tra Hội KTS Hà Nội, Thành viên Hội đồng Khoa học Tạp chí Kiến trúc Việt Nam – Viện Kiến trúc Quốc gia – Bộ Xây dựng

(*) “Điều tra thu thập dữ liệu cho tuyến buýt nhanh (BRT) tại Hà Nội” JICA 2016

https://openjicareport.jica.go.jp/pdf/1000028266_01.pdf

Ưu tiên chuyển đổi công sở dôi dư thành trung tâm chăm sóc người cao tuổi - Chiến lược an sinh cho thời kỳ già hóa dân số

(KTVN 257) Trong bối cảnh cả nước đang từng bước thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính, dẫn đến dôi dư nhiều trụ sở công quyền, việc sử dụng lại những công trình này không thể chỉ dừng ở tính toán hợp lý về mặt vật chất, mà cần được đặt trong một chiến lược tổng thể, lâu dài và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Trong các phương án chuyển đổi chức năng sử dụng, Nhà nước nên xác định rõ một hướng ưu tiên chiến lược, đó là tận dụng các công sở dôi dư để xây dựng các trung tâm chăm sóc sức khỏe và viện dưỡng lão cho người cao tuổi.

Bài toán nào cho việc chuyển đổi công năng các công sở dôi dư?

(KTVN 257) Sau khi xoá bỏ cấp huyện và sáp nhập tỉnh, ứng xử thế nào với các khu Trung tâm Hành chính của đô thị huyện lỵ và tỉnh lỵ cũ (sau đây gọi tắt là các khu Trung tâm đô thị cũ, viết tắt là khu TTĐT cũ) là một vấn đề rất lớn, được Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền các cấp và nhân dân đặc biệt quan tâm. Đã có nhiều gợi ý, đề xuất mang tính định hướng các phương án ứng xử đối với các công sở nhưng xem ra còn quá nhiều nội dung cần bàn thảo, phản biện xã hội để có thể lựa chọn được phương án tối ưu. Đặc biệt, dường như hầu hết các ý kiến chỉ nêu ứng xử với các công trình công sở với những gợi ý cho từng công trình mà chưa có gợi ý hay đề xuất nào định hướng tương lai cho tổng thể các khu đô thị cũ (KĐT cũ), trong đó các khu trung tâm đã hết vai trò là trung tâm hành chính. Với góc nhìn của người từng nhiều năm làm công tác quy hoạch đô thị, tôi xin góp một vài ý kiến, trên cơ sở lấy thực tế tại tỉnh Bắc Ninh.

Tránh lãng phí trụ sở sau sắp xếp - cần ứng dụng công nghệ trong quản lý tài sản

(KTVN 257) Trong thế kỷ XXI, thế giới đã phát triển nhanh, làm ra nhiều của cải, nhưng thế giới còn phát triển nhanh hơn trong công nghệ quản lý tài sản (cả công lẫn tư) gọi chung là công nghệ Quản lý cơ sở vật chất (FM - Facilities Management). Toàn bộ tài sản được mô tả trên hệ thống thông tin địa lý số hóa (GIS - Geographic Information System) bao gồm thông tin định vị trên bản đồ vệ tinh, các thông số kỹ thuật, định giá trị vật lý và phi vật lý của tài sản… Chúng ta cần tận dụng các công kỹ nghệ mới để thống kê, rà soát, kiểm đếm tài sản. Từ hồ sơ hiện trạng chi tiết đó, chúng ta sẽ nhận diện được những điểm mạnh, yếu của tài sản mà khai thác tối ưu vào các chức năng mới.

Trụ sở cũ - Bài toán mới

(KTVN 257) Việc sáp nhập hàng nghìn đơn vị hành chính cấp xã, huyện và cấp tỉnh không chỉ giúp tinh gọn bộ máy mà còn đặt ra một bài toán lớn: xử lý hàng loạt trụ sở hành chính cũ không còn sử dụng đúng chức năng. Đây không chỉ là câu chuyện về quản lý tài sản, mà còn phản ánh năng lực thể chế, tầm nhìn quy hoạch và trách nhiệm sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Nếu được nhìn nhận đúng và xử lý bài bản, những trụ sở dôi dư hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực phát triển mới cho cộng đồng, thay vì bị bỏ ngỏ trong sự chờ đợi và lúng túng.

Tiêu chí đánh giá và phương pháp áp dụng công trình hành chính dôi dư sau sáp nhập: Hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả xã hội

(KTVN 257) Mỗi công trình hành chính dôi dư không phải là một khối tài sản vô tri, mà là một phần trong đời sống đô thị. Nếu không có con người sử dụng, không có mục tiêu phục vụ rõ ràng, thì giá trị của công trình sẽ hao mòn theo thời gian. Mỗi quyết định chuyển đổi, dù là giữ nguyên chức năng, thay đổi chức năng hay giao cho tổ chức khác quản lý, đều phải xuất phát từ đánh giá cụ thể về bối cảnh không gian, nhu cầu sử dụng thực tế và năng lực vận hành lâu dài. Mọi mô hình nên được xây dựng trên cơ sở thử nghiệm, đo lường, phản hồi, điều chỉnh - chứ không thể quyết định theo cảm hứng, thói quen hay áp lực hình thức.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Hưng Thịnh Land
Vinmikh