Cơ hội vàng phát triển Học Thuyết cùng kỷ nguyên vươn mình
Bài 5: Từ lý thuyết đến thực tiễn: Quy hoạch Sông Hồng, một mô hình nghiên cứu và tầm nhìn mang theo một “Học Thuyết sống”
Đặt mô hình vào một khu vực cụ thể của Sông Hồng
Trong bài này, năm nguyên lý Liên kết, Cân bằng, Giới hạn, Nhịp điệu và Phản hồi được dùng trực tiếp để đọc hiện trạng và dẫn tới quyết định. Khu vực Sông Hồng được xem như một mô hình nghiên cứu giả định có bối cảnh thực, nơi các vấn đề thủy văn, dân cư, hạ tầng, sinh thái và phát triển đô thị cùng xuất hiện trong một không gian.
Ở Sông Hồng, bài toán phát triển không chỉ là tạo thêm công trình hay cảnh quan mới. Cùng một khu vực phải đồng thời xử lý dòng chảy và nguy cơ ngập, kết nối dân cư với bờ sông, bảo vệ hành lang sinh thái, tổ chức giao thông, tạo không gian công cộng và mở ra cơ hội kinh tế. Vì vậy, mô hình được dùng để thử một câu hỏi thực tế: phát triển đến đâu và theo cách nào để người dân được hưởng lợi nhiều hơn mà hệ thống tự nhiên vẫn duy trì khả năng vận hành và thích ứng?
Với khu vực nghiên cứu, việc đầu tiên không phải là đặt thêm công trình, mà là nhìn rõ dòng chảy, vùng có nguy cơ ngập, cấu trúc đê và hạ tầng, các khu dân cư hiện hữu, đường tiếp cận bờ sông, những mảng xanh còn liên tục hay đã bị chia cắt, nơi người dân đang sinh hoạt và những giá trị văn hóa - cảnh quan cần giữ. Phạm vi quan sát cũng không dừng ở ranh giới khu đất, bởi nước, giao thông, sinh thái và đời sống cộng đồng đều vượt qua ranh giới hành chính của một dự án. Từ cách đọc đó, năm nguyên lý được chuyển thành năm nhóm quyết định thực tế dưới đây.
Năm quyết định cụ thể cho khu vực nghiên cứu
Liên kết - trả lại khả năng tiếp cận Sông Hồng cho người dân. Thay vì để bờ sông bị chia cắt bởi đường giao thông, dự án riêng lẻ hoặc những khoảng đất khó tiếp cận, mô hình ưu tiên một mạng liên tục gồm tuyến đi bộ, xe đạp, công viên, quảng trường và các điểm tiếp cận mặt nước. Các khu dân cư hiện hữu cần được nối với bờ sông; các mảng xanh cần nối với nhau thành hành lang sinh thái; những điểm công cộng mới phải gắn với mạng giao thông và dịch vụ thay vì tồn tại như các ốc đảo đẹp nhưng rời rạc.
Cân bằng - phát triển nhưng không để một lợi ích lấn át các lợi ích khác. Giá trị đất đai, thương mại và du lịch có thể tăng, nhưng không nên đổi bằng việc cộng đồng hiện hữu mất không gian sống, bờ sông trở thành đặc quyền của một nhóm người hay sinh thái bị thu hẹp. Ở nơi hạ tầng có khả năng tiếp nhận có thể tổ chức mật độ phù hợp; ở nơi cần khoảng mở, hành lang xanh hoặc không gian cộng đồng thì giá trị lâu dài của chúng phải được đặt ngang với giá trị xây dựng. Cân bằng ở đây là tìm trạng thái để kinh tế, đời sống và môi trường cùng có cơ hội phát triển.
Giới hạn - lấy cấu trúc tự nhiên làm nền trước khi đặt công trình. Những vùng cần cho dòng chảy, thoát lũ, thấm nước hoặc có giá trị sinh thái không nên được xem đơn giản là quỹ đất trống. Trước khi hỏi có thể xây bao nhiêu, cần xác định nơi nào không nên xây, nơi nào chỉ nên can thiệp nhẹ và nơi nào hạ tầng có thể tiếp nhận phát triển. Cách làm này không phủ nhận xây dựng; ngược lại, nó giúp công trình được đặt đúng chỗ và giảm rủi ro phải trả giá bằng ngập, quá tải hạ tầng hay suy giảm môi trường về sau.
Nhịp điệu - tạo một bờ sông có đời sống trong ngày, trong mùa và trong nhiều trạng thái của dòng nước. Không gian ven sông cần phục vụ đi bộ, thể thao, nghỉ ngơi, văn hóa, giáo dục thiên nhiên, dịch vụ và sinh hoạt cộng đồng nhưng không phải mọi nơi đều hoạt động giống nhau. Có nơi sôi động vào buổi tối, có nơi cần yên tĩnh; có không gian dùng cho ngày thường nhưng có thể chuyển đổi khi có sự kiện; có vùng cảnh quan phải thích ứng với mùa nước lên xuống. Thiết kế vì vậy cần tính tới thời gian sử dụng chứ không chỉ hình ảnh khi hoàn thành.
Phản hồi - quy hoạch không kết thúc khi xây xong. Sau khi đưa không gian vào sử dụng, cần biết tuyến đi bộ có được dùng không, điểm nào quá nóng, nơi nào thường ngập, quảng trường nào quá tải, khu vực nào vắng người, người dân hài lòng hay bất tiện ở đâu và chất lượng môi trường thay đổi thế nào. Những thông tin này phải quay trở lại quá trình quản lý để điều chỉnh cây xanh, mái che, tổ chức giao thông, chức năng, lịch hoạt động hoặc phương thức vận hành. Đây là cách một quy hoạch học từ chính đời sống thực tế của nó.
Từ hiện trạng trên, các vấn đề ưu tiên có thể được chuyển thẳng thành câu hỏi hành động: kết nối bờ sông đang đứt ở đâu; vùng nào cần giữ cho nước và sinh thái; nơi nào có thể phát triển; người dân đang thiếu không gian và hoạt động gì; hạ tầng nào quá tải; dữ liệu nào còn thiếu để quản lý tốt hơn. Mỗi câu hỏi phải dẫn tới một quyết định có thể thiết kế, vận hành và kiểm tra.
Ba nhóm giải pháp cho khu vực nghiên cứu
Không gian - tổ chức lại quan hệ giữa sông, bờ và đô thị. Trước hết khoanh vùng hành lang thoát lũ, vùng thấm nước và các dải sinh thái cần bảo vệ; sau đó mới xác định nơi có thể bố trí công trình và mật độ phù hợp. Tạo một mạng liên tục gồm đường đi bộ, xe đạp, công viên, quảng trường và các điểm tiếp cận mặt nước; ưu tiên kết nối trực tiếp từ khu dân cư hiện hữu ra bờ sông. Các khu phát triển mới cần dành đủ khoảng mở, hạ tầng xanh và mặt nước để không làm tăng áp lực lên thoát nước, giao thông và vi khí hậu.
Đời sống - để người dân thực sự được hưởng lợi từ bờ sông. Không gian ven sông cần phục vụ những nhu cầu hằng ngày trước khi trở thành điểm đến du lịch: đi bộ, chạy bộ, xe đạp, vui chơi trẻ em, nghỉ ngơi người cao tuổi, thể thao, gặp gỡ và sinh hoạt cộng đồng. Các điểm văn hóa, giáo dục về sông, chợ nhỏ, dịch vụ và sinh kế địa phương có thể được bố trí ở quy mô phù hợp để tạo hoạt động mà không lấn át cư dân hiện hữu. Mục tiêu là người dân quanh khu vực có thể tiếp cận bờ sông thuận tiện, sử dụng thường xuyên và nhận được lợi ích trực tiếp từ quá trình phát triển.
Công nghệ: hỗ trợ hệ thống nhận biết và thích ứng. Công nghệ trong mô hình này trước hết phải giúp hệ thống biết điều gì đang thực sự xảy ra. Các mạng lưới cảm biến kết nối (Internet vạn vật - IoT) có thể được bố trí để theo dõi mực nước, lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, chất lượng không khí, chất lượng nước, mức tiêu thụ năng lượng và mật độ sử dụng các không gian công cộng. Camera hoặc thiết bị đếm người có thể cho biết tuyến đi bộ nào được sử dụng nhiều, thời điểm nào quảng trường quá tải hay khu vực nào ít người sử dụng; dữ liệu giao thông có thể giúp nhận biết điểm ùn tắc và những vị trí xung đột giữa người đi bộ, xe đạp với phương tiện cơ giới.
Những dữ liệu này không chỉ để lưu trữ. Chúng cần được tổng hợp trên một nền tảng quản lý chung, phân tích theo thời gian và đối chiếu với các ngưỡng hoặc mục tiêu đã đặt ra. Khi mực nước tăng nhanh hoặc lượng mưa vượt ngưỡng, hệ thống có thể phát cảnh báo sớm để cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động phương án ứng phó. Khi một tuyến đi bộ quá nóng vào buổi chiều, dữ liệu vi khí hậu có thể chỉ ra nhu cầu bổ sung bóng mát, điều chỉnh cây xanh, mái che hoặc vật liệu bề mặt. Khi một khu vực công cộng thường xuyên quá tải, dữ liệu sử dụng có thể hỗ trợ điều tiết hoạt động, phân luồng giao thông hoặc tổ chức lại không gian. Ở quy mô vận hành, hệ thống cũng có thể hỗ trợ điều tiết chiếu sáng theo thời gian và mức độ sử dụng, qua đó giảm lãng phí năng lượng mà vẫn bảo đảm an toàn.
Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ ở khâu phân tích và dự báo, chẳng hạn nhận diện xu hướng ngập, dự báo mức sử dụng không gian, phát hiện bất thường trong tiêu thụ năng lượng hoặc gợi ý các kịch bản vận hành. Tuy nhiên, AI không phải chủ thể ra quyết định cuối cùng. Những quyết định liên quan đến quy hoạch, an toàn, giao thông, vận hành hay điều chỉnh không gian vẫn thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị quản lý - vận hành và các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền, trên cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và phản hồi của cộng đồng.
Nguyên tắc cần được giữ rõ: công nghệ hỗ trợ một hệ thống hợp lý; nó không phải công cụ để hợp thức hóa một hệ thống bất hợp lý. Nếu một khu vực vốn cần dành cho nước nhưng bị xây dựng quá mức, cảm biến không thể biến quyết định quy hoạch đó thành đúng. Nếu một tuyến đi bộ được đặt sai vị trí, việc số hóa nó cũng không khiến người dân tự nhiên sử dụng. Vì vậy, công nghệ trong mô hình này không phải lớp trang trí “thông minh”, mà là hệ thần kinh giúp đô thị quan sát chính mình, phát hiện vấn đề sớm và hỗ trợ con người đưa ra quyết định tốt hơn. Công nghệ chỉ có giá trị khi nó giúp Con người và Môi trường được phục vụ tốt hơn.
Kiểm chứng một giải pháp cụ thể: hành lang xanh ven sông và tuyến đi bộ
Với hành lang xanh ven sông kết hợp tuyến đi bộ, việc hoàn thành công trình mới chỉ là điểm bắt đầu. Cần kiểm tra người dân có thực sự đi bộ và vận động nhiều hơn không; buổi chiều có đủ bóng mát không; thời gian lưu lại có tăng không; các nhóm tuổi có cùng tiếp cận được không; nhiệt độ bề mặt, khả năng thấm nước và chất lượng sinh thái có cải thiện không. Nếu kết quả không đạt, nguyên nhân phải được truy ngược về vị trí tuyến, khoảng cách điểm đến, bóng cây, vật liệu, chiếu sáng, an toàn giao thông hoặc cách tổ chức hoạt động để điều chỉnh.
Giả sử sau một thời gian vận hành, tuyến đi bộ ven sông ít được sử dụng vào buổi chiều. Một mô hình tuyến tính có thể coi dự án đã hoàn thành và vấn đề nằm ở người sử dụng. Một mô hình có phản hồi sẽ đặt câu hỏi khác. Có phải tuyến đường quá nóng? Có thiếu bóng cây? Các điểm đến có nằm quá xa nhau? Có giao cắt nguy hiểm? Hoạt động tầng trệt có đủ hấp dẫn? Người dân có thực sự cần tuyến đường ở vị trí đó? Dữ liệu và phản hồi từ thực tế trở thành đầu vào mới cho thiết kế. Có thể cần bổ sung bóng mát, điều chỉnh cây xanh, thay đổi chức năng, bổ sung điểm nghỉ, tổ chức hoạt động hoặc thậm chí xem xét lại một phần cấu trúc không gian. Khi đó, chu trình trở thành: Can thiệp; Quan sát; Đánh giá; Phản hồi; Điều chỉnh; Tiếp tục quan sát. Đây chính là điểm mà nguyên lý phản hồi kết nối toàn bộ hệ thống. Thiết kế không còn kết thúc khi hồ sơ được bàn giao. Theo nghĩa rộng hơn, thiết kế tiếp tục tồn tại trong quá trình vận hành của môi trường sống.
Nếu cách làm này được thử ở một phạm vi thực tế đủ nhỏ, kết quả có thể được dùng để học và hoàn thiện trước khi mở rộng. Một đoạn bờ sông, một công viên, một tuyến đi bộ hay một cụm không gian công cộng đều có thể trở thành nơi kiểm tra những câu hỏi rất cụ thể: người dân có sử dụng không, môi trường có tốt hơn không, vận hành có hiệu quả không và lợi ích giữa các bên có được cân bằng không. Chỉ khi các bài học được tích lũy qua nhiều trường hợp và có dữ liệu thực tế, những nguyên tắc phù hợp mới có cơ sở để đóng góp cho những bài toán quy mô lớn hơn.
Thay lời kết: từ một mô hình cụ thể đến tầm nhìn về một “học thuyết sống”
Mô hình nghiên cứu tại Sông Hồng minh chứng cho một cách thức phát triển có thể đi thẳng vào thực tiễn: giữ nơi cần giữ, xây nơi được xây, trả bờ sông cho cộng đồng, dùng công nghệ để quan sát và lấy dữ liệu để liên tục hoàn thiện. Từ những nguyên tắc được thực nghiệm đó, một tầm nhìn lớn hơn cho đô thị Việt Nam sẽ dần lộ diện.
Quy hoạch Sông Hồng mà thủ đô đang hoạch định hoàn toàn có thể hướng tới một không gian xanh, hiện đại, khoa học, giàu bản sắc và xứng đáng trở thành bộ mặt của Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Xa hơn, nếu nơi đó biết tôn trọng quy luật tự nhiên, lấy con người và môi trường làm trung tâm, biết quan sát, học hỏi và liên tục thích ứng. Đặc biệt sự phát triển mang theo triết lý sống, văn hóa sống, Sông Hồng có thể mang theo một “ Học Thuyết sống” hiện hữu trong chính không gian và đời sống. Khi ấy, thế giới đến Sông Hồng không chỉ để nhìn một mô hình phát triển cơ học ven sông hiện đại, mà còn có thể đến để tìm hiểu và học hỏi một cách phát triển, một triết lý bền vững được hình thành từ Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
1. Meadows, D.H. (1999). Leverage Points: Places to Intervene in a System. Sustainability Institute.
2. Mang, P., & Reed, B. (2012). “Designing from place: a regenerative framework and methodology.” Building Research & Information, 40(1), 23–38.
3. Mang, P., & Reed, B. (2013). “Regenerative Development and Design.” In Sustainable Built Environments. Springer.
4. Cole, R.J. (2012). “Regenerative design and development: current theory and practice.” Building Research & Information, 40(1), 1–6.
5. Lee, J.H., Ostwald, M.J., & Kim, M.J. (2021). “Characterizing Smart Environments as Interactive and Collective Platforms: A Review of the Key Behaviors of Responsive Architecture.” Sensors, 21(10), 3417.
6. Zhong, W., Schröder, T., & Bekkering, J. (2022). “Biophilic design in architecture and its contributions to health, well-being, and sustainability: A critical review.” Frontiers of Architectural Research, 11(1), 114–141.
7. Abson, D.J. et al. (2017). “Leverage points for sustainability transformation.” Ambio, 46, 30–39.
8. Fischer, J., & Riechers, M. (2019). “A leverage points perspective on sustainability.” People and Nature, 1(1), 115–120.










Ý kiến của bạn