Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang: Khi di sản kiến trúc chở che thời khắc khai sinh độc lập
48 HÀNG NGANG VÀ THỜI KHẮC TRƯỚC NGÀY ĐỘC LẬP
Cứ mỗi độ thu sang, khi làn gió heo may se lạnh bắt đầu len lỏi qua từng con ngõ nhỏ của Hà Nội và sắc cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay mừng ngày Quốc khánh 2/9, trong tâm khảm của hàng triệu người con đất Việt lại bồi hồi nhớ về thời khắc thiêng liêng tại Quảng trường Ba Đình mùa thu năm 1945. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mở ra một kỷ nguyên mới của độc lập, tự do cho toàn dân tộc [1]. Thế nhưng, trước khi những câu từ đanh thép ấy vang lên trước dân tộc và thế giới, áng văn lập quốc mang tầm thời đại đã được kết tinh và hoàn thiện trong một không gian rất đỗi đặc biệt: căn phòng trên tầng hai của ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (Hình 1).
Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu trở về Hà Nội giữa thời điểm chính quyền cách mạng non trẻ đang khẩn trương chuẩn bị cho sự ra đời của nước Việt Nam mới. Việc lựa chọn một địa điểm vừa kín đáo, an toàn, vừa thuận tiện cho công tác chỉ đạo của Trung ương Đảng là yêu cầu cấp thiết hàng đầu [2]. Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của gia đình doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô và cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ (chủ hiệu buôn tơ lụa Phúc Lợi) đã đáp ứng trọn vẹn những tiêu chí ấy. Không chỉ là cơ sở cách mạng tin cậy, ngôi nhà còn có địa thế đặc biệt: mặt trước mở ra phố Hàng Ngang tấp nập, mặt sau thông sang phố Hàng Cân. Trước khi đón Bác về, đồng chí Trường Chinh đã trực tiếp khảo sát, vẽ sơ đồ cấu trúc ngôi nhà gửi lên An toàn khu để Người xem xét. Theo hồi ức của gia đình, Bác Hồ được bí mật đón vào nhà qua lối phố Hàng Cân. Sau ít ngày nghỉ tại tầng ba, Người chuyển xuống tầng hai để cùng sinh hoạt và làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cấu trúc “trên ở, dưới buôn” với các lớp không gian đệm và lối thoát hậu cơ động đã tạo nên lớp vỏ bọc ngụy trang hoàn hảo giữa lòng phố cổ. Chính tại căn phòng tầng hai của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã quyết định nhiều vấn đề quốc gia trọng đại về đối nội, đối ngoại, nhân sự Chính phủ lâm thời và kế hoạch tổ chức Lễ Độc lập. Cũng tại nơi đây, Người đã dành trọn tâm huyết khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, chính thức công bố trước quốc dân và thế giới vào ngày 2/9/1945.
NGÔI NHÀ ĐÃ “CHỞ CHE” THỜI KHẮC LỊCH SỬ NHƯ THẾ NÀO?
Nhà ống xuyên hai mặt phố: kín đáo nhưng linh hoạt
Trong cấu trúc đô thị khu phố cổ Hà Nội, các thửa đất thường có mặt tiền hẹp nhưng phát triển rất sâu vào bên trong ô phố, từ đó hình thành loại hình nhà ống đặc trưng [3]. Di tích số 48 Hàng Ngang là một trường hợp tiêu biểu cho cấu trúc xuyên tâm kết nối hai mặt phố thương mại sầm uất (Hàng Ngang – Hàng Cân). Về quy mô, công trình gồm bốn tầng với sự phân định công năng theo phương đứng: tầng một dành cho thương mại (hiệu buôn tơ lụa Phúc Lợi); tầng hai và tầng ba là không gian tiếp khách, ăn uống và sinh hoạt gia đình; tầng bốn đảm nhiệm chức năng kho hàng và sân thượng.
Để giải quyết chiều sâu lớn của khu đất, mặt bằng công trình không xây đặc kín liên tục mà được tổ chức thành nhiều lớp không gian đan xen các khoảng mở. Theo tư liệu của Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội, ngôi nhà phát triển theo trục hình chữ nhật với hai đầu trước - sau thông thoáng; phần lõi liên kết ở giữa có một khoảng sân trong lộ thiên, giếng nước và cây xanh, đóng vai trò như một vùng đệm điều tiết. Khu vực phía sau thông ra phố Hàng Cân được bố trí sân phụ, bếp nấu, khu vệ sinh và cửa xuất nhập hàng, đồng thời tạo nên hướng tiếp cận thứ hai kín đáo cho toàn bộ ngôi nhà. Cấu trúc này thiết lập một trình tự chuyển tiếp không gian chặt chẽ: từ thương mại (mặt trước) đến sinh hoạt gia đình (ở giữa) và hậu cần - phụ trợ (mặt sau); vừa tối ưu hóa khả năng lấy sáng, thông gió, vừa duy trì tính riêng tư cho đời sống bên trong.
Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính cấu trúc không gian nhiều lớp này đã mang lại lợi thế phòng vệ và an ninh đặc biệt cho cơ quan đầu não cách mạng. Mặt tiền kinh doanh nhộn nhịp ở phố Hàng Ngang trở thành lớp bình phong tự nhiên che chắn tầm mắt của mật thám; trong khi lối mở phía Hàng Cân tĩnh lặng hơn lại là cửa ngõ an toàn cho việc đưa đón cán bộ và tiếp tế bí mật trong đêm. Sự kết hợp giữa hai lối vào độc lập, hệ thống cầu thang gắn liền các khoảng sân trong cùng khả năng tiếp cận trực tiếp lên hệ mái ngói san sát của khu phố cổ đã thiết lập nên một trục thoát hiểm ba chiều cơ động.
Giếng trời và khoảng yên tĩnh bên trong nhà
Với chiều sâu gần 60m, một căn nhà ống trong điều kiện khí hậu nóng ẩm miền Bắc rất dễ rơi vào cảnh tối, ẩm và ngột ngạt. Để giải quyết bài toán này, công trình đã sử dụng hai giếng trời lộ thiên xen kẽ giữa các khối nhà. Như các nghiên cứu về bảo tồn di sản đô thị đã chỉ ra, cấu trúc “đa khối - đa khoảng mở” này phù hợp với đặc điểm phổ biến của nhà ống truyền thống tại Hà Nội: mặt nhà hẹp, chiều sâu lớn, các không gian chức năng được nối tiếp bằng hành lang và được ngắt nhịp bởi sân trong hoặc giếng trời. Những khoảng mở không chỉ đưa ánh sáng tự nhiên vào phần lõi công trình mà còn tạo điều kiện cho trao đổi không khí giữa các lớp không gian trước, giữa và sau nhà [5].
Đặc biệt, khoảng sân trong đóng vai trò như một lớp đệm âm học tự nhiên, hấp thụ và tiêu tán toàn bộ tiếng ồn náo nhiệt từ mặt đường. Nhờ đó, căn phòng tầng hai ở khối nhà trung tâm có được một "lõi tĩnh lặng" hoàn hảo. Trong cuốn “Những năm tháng không thể nào quên”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại những ngày lưu lại tại số 48 Hàng Ngang: “Về Hà Nội, chúng tôi ở phố Hàng Ngang. Thành ủy đã bố trí cho chúng tôi ở tại một gia đình cơ sở. Anh chị chủ nhà đã dành cho chúng tôi một tầng gác hai. Bác được mời lên tầng ba làm việc cho yên tĩnh. Nhưng Bác không thích ở một mình, cùng xuống ở với chúng tôi”[2]. Nơi làm việc và hội họp của Bác cùng Thường vụ Trung ương Đảng là căn phòng tầng hai rộng chừng 60m2 với cách bài trí gọn gàng, giản dị. Điểm nhấn của không gian là chiếc bàn họp hình chữ nhật bằng gỗ màu cánh gián sẫm đặt ở vị trí trung tâm, bao quanh bởi 8 chiếc ghế tựa bọc nỉ xanh bọc vải trắng. Kê sát mép tường là một dãy băng ghế - nơi đồng chí Võ Nguyên Giáp thường tranh thủ ngả lưng. Nằm khiêm tốn ở góc phải phía ngoài căn phòng là một bộ bàn ghế tựa loại nhỏ. Chính tại góc bàn nhỏ bé này, với chiếc máy đánh chữ mang về từ chiến khu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập (từ 28/8 đến 30/8/1945). Ngày 02/9/1945, bản Tuyên ngôn được công bố, đánh dấu một sự kiện lịch sử mang “ý nghĩa cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị, tinh thần của dân tộc”[3].
Không gian giao thoa Đông - Tây
Bên cạnh công năng và giải pháp vi khí hậu, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang còn phản ánh sinh động lối sống cùng gu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân, tư sản dân tộc Hà Nội đầu thế kỷ XX. Đây là thời kỳ diễn ra sự chuyển mình mạnh mẽ trong kiến trúc đô thị, khi phong cách Cận hiện đại và trào lưu Art Deco bắt đầu dung hòa vào nếp nhà truyền thống. Về tổng thể, ngôi nhà vẫn giữ cốt cách của kiến trúc Á Đông: mặt bằng dài sâu, các khoảng sân trong rải sỏi, cây xanh, cùng trục bài trí đăng đối nghiêm cẩn. Tuy nhiên, công trình đã mạnh dạn tiếp nhận hàng loạt kỹ thuật và vật liệu mới của phương Tây như hệ dầm sàn bê tông, cột thép tròn thanh mảnh, cửa kính, sàn gạch bông xi măng và các mảng gạch thông gió kỷ hà. TS. KTS Nguyễn Quang Minh, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch - Đại học Xây dựng, nhận định: Trong giai đoạn 1930–1940, kiến trúc Hà Nội chứng kiến sự dịch chuyển từ phong cách Tân cổ điển (Beaux-Arts) rườm rà, nặng nề sang phong cách Art Deco hiện đại, đề cao tính hình khối và công năng. Sự thay đổi này không chỉ là một trào lưu thẩm mỹ mà còn là giải pháp tối ưu cho khí hậu nhiệt đới gió mùa, đáp ứng nhu cầu của tầng lớp thị dân và tư sản mới nổi lúc bấy giờ [4].
Sự cộng hưởng văn hóa thể hiện rõ nét nhất tại không gian tầng hai và tầng ba. Trong các phòng khách và phòng sinh hoạt, những món đồ gỗ cổ truyền như bộ trường kỷ, sập gụ chạm khắc, tủ chè và khay chén gốm sứ được đặt song hành tự nhiên bên cạnh đèn chùm đồng Cổ điển Pháp, máy hát đĩa than loa kèn cổ và quạt trần. Đặc biệt, chi tiết ô cửa tròn Art Deco như một khung tranh mượn cảnh thiên nhiên, tạo điểm nhấn mềm mại cho mảng tường phẳng. Sự hiện diện hài hòa của các yếu tố Đông - Tây trong cùng một mái nhà cho thấy tư duy cởi mở, tiếp thu cái mới nhưng không đánh mất bản sắc của người Hà Nội xưa.
DI SẢN KIẾN TRÚC VÀ KÝ ỨC VỀ NỀN ĐỘC LẬP
Năm 1979, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang đã được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Giá trị của công trình trước hết gắn liền với một dấu mốc trọng đại của dân tộc: nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định trước quốc dân và thế giới quyền tự do, bình đẳng thiêng liêng của nước Việt Nam mới [1]. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ di sản đô thị, ý nghĩa của 48 Hàng Ngang không chỉ nằm ở sự kiện lịch sử đã diễn ra, mà còn hiện diện sống động trong chính cấu trúc không gian của ngôi nhà. Thế đất hình ống thông hai mặt phố, cách phân chia “đa khối - đa khoảng mở”, hệ thống giếng trời không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật giải quyết bài toán thông gió, lấy sáng, mà đã vô tình tạo nên một môi trường làm việc kín đáo, an toàn và tĩnh lặng cần thiết cho Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng. Bên cạnh đó, công trình còn là một tư liệu vật chất quý giá phản ánh bức tranh đời sống, văn hóa và tay nghề xây dựng của người Hà Nội giai đoạn đầu thế kỷ XX. Sự song hành tự nhiên giữa nếp sống gia phong Á Đông với các tiện nghi, vật liệu và chi tiết Cận hiện đại phương Tây đã tạo nên một chỉnh thể nhà phố thương mại giàu bản sắc.
Nhìn lại 48 Hàng Ngang nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, công trình nhắc nhở chúng ta về sự đóng góp thầm lặng của các tầng lớp nhân dân yêu nước đối với cách mạng, đồng thời khẳng định giá trị trường tồn của một di sản kiến trúc - nơi hình thái không gian đô thị đã gắn liền và chở che cho thời khắc lịch sử khai sinh nền độc lập của đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4 (1945–1946), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[2] Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội.
[3] Võ Nguyên Giáp (1970), Những năm tháng không thể nào quên, Hữu Mai ghi, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
[4] Nguyễn Quang Minh (2017), “Nhà phố Pháp trong khu phố cổ Hà Nội - Phần 1: Lịch sử, vị trí, phân bố và đặc điểm”, Tạp chí Kiến trúc, số 271, tr. 56–63.
[5] Nguyễn Phan Anh (2016), “Towards a sustainable plan for new tube houses in Vietnam”, trong 17th IPHS Conference, Delft 2016: History - Urbanism - Resilience, Volume 02: The Urban Fabric - Morphology, Housing and Renewal - Housing Production, Delft, Hà Lan.










Ý kiến của bạn