Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang: Khi di sản kiến trúc chở che thời khắc khai sinh độc lập

Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang: Khi di sản kiến trúc chở che thời khắc khai sinh độc lập

(Vietnamarchi) - Bài viết tìm hiểu di tích 48 Hàng Ngang (Hà Nội) - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - dưới góc nhìn kiến trúc và di sản đô thị. Dựa trên khảo sát thực tế, nghiên cứu chỉ ra rằng ngôi nhà sở hữu cấu trúc nhà phố hình ống đặc trưng, thông từ phố Hàng Ngang sang phố Hàng Cân với ba khối nhà đan xen cùng hai giếng trời. Cách tổ chức mặt bằng này không chỉ giúp lấy sáng, đón gió tự nhiên và giảm tiếng ồn phố thị, mà còn tạo ra sự kín đáo, an toàn cho việc đi lại của Trung ương Đảng trong những ngày cuối tháng 8/1945. Nhờ đó, căn phòng tầng hai nơi Bác Hồ làm việc luôn giữ được sự yên tĩnh và thông thoáng cần thiết. Bên cạnh ý nghĩa lịch sử, công trình còn phản ánh nét giao thoa văn hóa Đông - Tây rõ nét qua sự kết hợp giữa nếp sống truyền thống Á Đông với vật liệu, tiện nghi và chi tiết kiến trúc hiện đại đầu thế kỷ XX. Việc giữ gìn 48 Hàng Ngang vì thế không chỉ bảo tồn một chứng nhân lịch sử cách mạng, mà còn lưu giữ một phần ký ức sống động của kiến trúc đô thị Hà Nội.
15:00, 01/09/2026

48 HÀNG NGANG VÀ THỜI KHẮC TRƯỚC NGÀY ĐỘC LẬP

Cứ mỗi độ thu sang, khi làn gió heo may se lạnh bắt đầu len lỏi qua từng con ngõ nhỏ của Hà Nội và sắc cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay mừng ngày Quốc khánh 2/9, trong tâm khảm của hàng triệu người con đất Việt lại bồi hồi nhớ về thời khắc thiêng liêng tại Quảng trường Ba Đình mùa thu năm 1945. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mở ra một kỷ nguyên mới của độc lập, tự do cho toàn dân tộc [1]. Thế nhưng, trước khi những câu từ đanh thép ấy vang lên trước dân tộc và thế giới, áng văn lập quốc mang tầm thời đại đã được kết tinh và hoàn thiện trong một không gian rất đỗi đặc biệt: căn phòng trên tầng hai của ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (Hình 1).

Hình 1. Mặt đứng di tích 48 Hàng Ngang nhìn từ phố Hàng Ngang, với các mảng gạch thông gió, ban công và mái che đục ô tròn - ngôn ngữ kiến trúc Art Deco hiện đại đầu thế kỷ XX. (Nguồn: Tác giả, 2026)

Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu trở về Hà Nội giữa thời điểm chính quyền cách mạng non trẻ đang khẩn trương chuẩn bị cho sự ra đời của nước Việt Nam mới. Việc lựa chọn một địa điểm vừa kín đáo, an toàn, vừa thuận tiện cho công tác chỉ đạo của Trung ương Đảng là yêu cầu cấp thiết hàng đầu [2]. Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của gia đình doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô và cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ (chủ hiệu buôn tơ lụa Phúc Lợi) đã đáp ứng trọn vẹn những tiêu chí ấy. Không chỉ là cơ sở cách mạng tin cậy, ngôi nhà còn có địa thế đặc biệt: mặt trước mở ra phố Hàng Ngang tấp nập, mặt sau thông sang phố Hàng Cân. Trước khi đón Bác về, đồng chí Trường Chinh đã trực tiếp khảo sát, vẽ sơ đồ cấu trúc ngôi nhà gửi lên An toàn khu để Người xem xét. Theo hồi ức của gia đình, Bác Hồ được bí mật đón vào nhà qua lối phố Hàng Cân. Sau ít ngày nghỉ tại tầng ba, Người chuyển xuống tầng hai để cùng sinh hoạt và làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cấu trúc “trên ở, dưới buôn” với các lớp không gian đệm và lối thoát hậu cơ động đã tạo nên lớp vỏ bọc ngụy trang hoàn hảo giữa lòng phố cổ. Chính tại căn phòng tầng hai của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã quyết định nhiều vấn đề quốc gia trọng đại về đối nội, đối ngoại, nhân sự Chính phủ lâm thời và kế hoạch tổ chức Lễ Độc lập. Cũng tại nơi đây, Người đã dành trọn tâm huyết khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, chính thức công bố trước quốc dân và thế giới vào ngày 2/9/1945. 

Hình 2. Không gian trưng bày tại di tích 48 Hàng Ngang, giới thiệu về ngôi nhà và gia đình tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh Hồ. (Nguồn: Tác giả, 2026)

NGÔI NHÀ ĐÃ “CHỞ CHE” THỜI KHẮC LỊCH SỬ NHƯ THẾ NÀO?

Nhà ống xuyên hai mặt phố: kín đáo nhưng linh hoạt

Trong cấu trúc đô thị khu phố cổ Hà Nội, các thửa đất thường có mặt tiền hẹp nhưng phát triển rất sâu vào bên trong ô phố, từ đó hình thành loại hình nhà ống đặc trưng [3]. Di tích số 48 Hàng Ngang là một trường hợp tiêu biểu cho cấu trúc xuyên tâm kết nối hai mặt phố thương mại sầm uất (Hàng Ngang – Hàng Cân). Về quy mô, công trình gồm bốn tầng với sự phân định công năng theo phương đứng: tầng một dành cho thương mại (hiệu buôn tơ lụa Phúc Lợi); tầng hai và tầng ba là không gian tiếp khách, ăn uống và sinh hoạt gia đình; tầng bốn đảm nhiệm chức năng kho hàng và sân thượng.

Để giải quyết chiều sâu lớn của khu đất, mặt bằng công trình không xây đặc kín liên tục mà được tổ chức thành nhiều lớp không gian đan xen các khoảng mở. Theo tư liệu của Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội, ngôi nhà phát triển theo trục hình chữ nhật với hai đầu trước - sau thông thoáng; phần lõi liên kết ở giữa có một khoảng sân trong lộ thiên, giếng nước và cây xanh, đóng vai trò như một vùng đệm điều tiết. Khu vực phía sau thông ra phố Hàng Cân được bố trí sân phụ, bếp nấu, khu vệ sinh và cửa xuất nhập hàng, đồng thời tạo nên hướng tiếp cận thứ hai kín đáo cho toàn bộ ngôi nhà. Cấu trúc này thiết lập một trình tự chuyển tiếp không gian chặt chẽ: từ thương mại (mặt trước) đến sinh hoạt gia đình (ở giữa) và hậu cần - phụ trợ (mặt sau); vừa tối ưu hóa khả năng lấy sáng, thông gió, vừa duy trì tính riêng tư cho đời sống bên trong.

Hình 3. Trục không gian tầng một đi qua giếng trời thứ nhất, khu chứa hàng, giếng trời thứ hai và các phòng phía sau, trước khi thông sang phố Hàng Cân. (Nguồn: Tác giả, 2026)

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính cấu trúc không gian nhiều lớp này đã mang lại lợi thế phòng vệ và an ninh đặc biệt cho cơ quan đầu não cách mạng. Mặt tiền kinh doanh nhộn nhịp ở phố Hàng Ngang trở thành lớp bình phong tự nhiên che chắn tầm mắt của mật thám; trong khi lối mở phía Hàng Cân tĩnh lặng hơn lại là cửa ngõ an toàn cho việc đưa đón cán bộ và tiếp tế bí mật trong đêm. Sự kết hợp giữa hai lối vào độc lập, hệ thống cầu thang gắn liền các khoảng sân trong cùng khả năng tiếp cận trực tiếp lên hệ mái ngói san sát của khu phố cổ đã thiết lập nên một trục thoát hiểm ba chiều cơ động.

Giếng trời và khoảng yên tĩnh bên trong nhà

Với chiều sâu gần 60m, một căn nhà ống trong điều kiện khí hậu nóng ẩm miền Bắc rất dễ rơi vào cảnh tối, ẩm và ngột ngạt. Để giải quyết bài toán này, công trình đã sử dụng hai giếng trời lộ thiên xen kẽ giữa các khối nhà. Như các nghiên cứu về bảo tồn di sản đô thị đã chỉ ra, cấu trúc “đa khối - đa khoảng mở” này phù hợp với đặc điểm phổ biến của nhà ống truyền thống tại Hà Nội: mặt nhà hẹp, chiều sâu lớn, các không gian chức năng được nối tiếp bằng hành lang và được ngắt nhịp bởi sân trong hoặc giếng trời. Những khoảng mở không chỉ đưa ánh sáng tự nhiên vào phần lõi công trình mà còn tạo điều kiện cho trao đổi không khí giữa các lớp không gian trước, giữa và sau nhà [5].

Hình 4. Giếng trời và hệ cầu thang ở phần lõi ngôi nhà, đưa ánh sáng và không khí tự nhiên vào các tầng bên trong. (Nguồn: Tác giả, 2026)
Hình 5. Lan can hành lang, cửa chớp gỗ và khung sắt tại giếng trời, kết hợp chức năng thông thoáng, che chắn và bảo vệ. (Nguồn: Tác giả, 2026)

Đặc biệt, khoảng sân trong đóng vai trò như một lớp đệm âm học tự nhiên, hấp thụ và tiêu tán toàn bộ tiếng ồn náo nhiệt từ mặt đường. Nhờ đó, căn phòng tầng hai ở khối nhà trung tâm có được một "lõi tĩnh lặng" hoàn hảo. Trong cuốn “Những năm tháng không thể nào quên”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại những ngày lưu lại tại số 48 Hàng Ngang: “Về Hà Nội, chúng tôi ở phố Hàng Ngang. Thành ủy đã bố trí cho chúng tôi ở tại một gia đình cơ sở. Anh chị chủ nhà đã dành cho chúng tôi một tầng gác hai. Bác được mời lên tầng ba làm việc cho yên tĩnh. Nhưng Bác không thích ở một mình, cùng xuống ở với chúng tôi”[2]. Nơi làm việc và hội họp của Bác cùng Thường vụ Trung ương Đảng là căn phòng tầng hai rộng chừng 60m2 với cách bài trí gọn gàng, giản dị. Điểm nhấn của không gian là chiếc bàn họp hình chữ nhật bằng gỗ màu cánh gián sẫm đặt ở vị trí trung tâm, bao quanh bởi 8 chiếc ghế tựa bọc nỉ xanh bọc vải trắng. Kê sát mép tường là một dãy băng ghế - nơi đồng chí Võ Nguyên Giáp thường tranh thủ ngả lưng. Nằm khiêm tốn ở góc phải phía ngoài căn phòng là một bộ bàn ghế tựa loại nhỏ. Chính tại góc bàn nhỏ bé này, với chiếc máy đánh chữ mang về từ chiến khu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập (từ 28/8 đến 30/8/1945). Ngày 02/9/1945, bản Tuyên ngôn được công bố, đánh dấu một sự kiện lịch sử mang “ý nghĩa cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị, tinh thần của dân tộc”[3].

Hình 6. Phòng họp tầng hai, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng làm việc trong những ngày cuối tháng 8 năm 1945. (Nguồn: Tác giả, 2026)

Không gian giao thoa Đông - Tây

Bên cạnh công năng và giải pháp vi khí hậu, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang còn phản ánh sinh động lối sống cùng gu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân, tư sản dân tộc Hà Nội đầu thế kỷ XX. Đây là thời kỳ diễn ra sự chuyển mình mạnh mẽ trong kiến trúc đô thị, khi phong cách Cận hiện đại và trào lưu Art Deco bắt đầu dung hòa vào nếp nhà truyền thống. Về tổng thể, ngôi nhà vẫn giữ cốt cách của kiến trúc Á Đông: mặt bằng dài sâu, các khoảng sân trong rải sỏi, cây xanh, cùng trục bài trí đăng đối nghiêm cẩn. Tuy nhiên, công trình đã mạnh dạn tiếp nhận hàng loạt kỹ thuật và vật liệu mới của phương Tây như hệ dầm sàn bê tông, cột thép tròn thanh mảnh, cửa kính, sàn gạch bông xi măng và các mảng gạch thông gió kỷ hà. TS. KTS Nguyễn Quang Minh, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch - Đại học Xây dựng, nhận định: Trong giai đoạn 1930–1940, kiến trúc Hà Nội chứng kiến sự dịch chuyển từ phong cách Tân cổ điển (Beaux-Arts) rườm rà, nặng nề sang phong cách Art Deco hiện đại, đề cao tính hình khối và công năng. Sự thay đổi này không chỉ là một trào lưu thẩm mỹ mà còn là giải pháp tối ưu cho khí hậu nhiệt đới gió mùa, đáp ứng nhu cầu của tầng lớp thị dân và tư sản mới nổi lúc bấy giờ [4].

Hình 7. Phòng tiếp khách tầng hai với hệ cửa kính mở ra phía mặt phố, thể hiện không gian sinh hoạt của một ngôi nhà phố thương mại đầu thế kỷ XX. (Nguồn: Tác giả, 2026)

Sự cộng hưởng văn hóa thể hiện rõ nét nhất tại không gian tầng hai và tầng ba. Trong các phòng khách và phòng sinh hoạt, những món đồ gỗ cổ truyền như bộ trường kỷ, sập gụ chạm khắc, tủ chè và khay chén gốm sứ được đặt song hành tự nhiên bên cạnh đèn chùm đồng Cổ điển Pháp, máy hát đĩa than loa kèn cổ và quạt trần. Đặc biệt, chi tiết ô cửa tròn Art Deco như một khung tranh mượn cảnh thiên nhiên, tạo điểm nhấn mềm mại cho mảng tường phẳng. Sự hiện diện hài hòa của các yếu tố Đông - Tây trong cùng một mái nhà cho thấy tư duy cởi mở, tiếp thu cái mới nhưng không đánh mất bản sắc của người Hà Nội xưa.

Hình 8. Nội thất tầng ba với đồ gỗ truyền thống, đèn chùm kiểu Tây và cửa sổ tròn, thể hiện sự giao thoa Đông - Tây trong không gian sống. (Nguồn: Tác giả, 2026)

DI SẢN KIẾN TRÚC VÀ KÝ ỨC VỀ NỀN ĐỘC LẬP

Năm 1979, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang đã được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Giá trị của công trình trước hết gắn liền với một dấu mốc trọng đại của dân tộc: nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định trước quốc dân và thế giới quyền tự do, bình đẳng thiêng liêng của nước Việt Nam mới [1]. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ di sản đô thị, ý nghĩa của 48 Hàng Ngang không chỉ nằm ở sự kiện lịch sử đã diễn ra, mà còn hiện diện sống động trong chính cấu trúc không gian của ngôi nhà. Thế đất hình ống thông hai mặt phố, cách phân chia “đa khối - đa khoảng mở”, hệ thống giếng trời không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật giải quyết bài toán thông gió, lấy sáng, mà đã vô tình tạo nên một môi trường làm việc kín đáo, an toàn và tĩnh lặng cần thiết cho Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng. Bên cạnh đó, công trình còn là một tư liệu vật chất quý giá phản ánh bức tranh đời sống, văn hóa và tay nghề xây dựng của người Hà Nội giai đoạn đầu thế kỷ XX. Sự song hành tự nhiên giữa nếp sống gia phong Á Đông với các tiện nghi, vật liệu và chi tiết Cận hiện đại phương Tây đã tạo nên một chỉnh thể nhà phố thương mại giàu bản sắc.

Nhìn lại 48 Hàng Ngang nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, công trình nhắc nhở chúng ta về sự đóng góp thầm lặng của các tầng lớp nhân dân yêu nước đối với cách mạng, đồng thời khẳng định giá trị trường tồn của một di sản kiến trúc - nơi hình thái không gian đô thị đã gắn liền và chở che cho thời khắc lịch sử khai sinh nền độc lập của đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4 (1945–1946), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội.

[3] Võ Nguyên Giáp (1970), Những năm tháng không thể nào quên, Hữu Mai ghi, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội.

[4] Nguyễn Quang Minh (2017), “Nhà phố Pháp trong khu phố cổ Hà Nội - Phần 1: Lịch sử, vị trí, phân bố và đặc điểm”, Tạp chí Kiến trúc, số 271, tr. 56–63.

[5] Nguyễn Phan Anh (2016), “Towards a sustainable plan for new tube houses in Vietnam”, trong 17th IPHS Conference, Delft 2016: History - Urbanism - Resilience, Volume 02: The Urban Fabric - Morphology, Housing and Renewal - Housing Production, Delft, Hà Lan.

So sánh tư duy kiến trúc cảnh quan truyền thống Việt Nam và phương Tây

Thiết kế kiến trúc cảnh quan là một phương tiện văn hóa đặc thù mà qua đó nhân loại thể hiện vai trò chủ thể của mình bằng cách tổ chức, sắp đặt các tạo vật tự nhiên. Đằng sau những cấu trúc không gian đó là sự hiểu biết sâu sắc và trí tưởng tượng phong phú của con người về vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, lịch sử và nhân sinh. Đó là một hình thức nghệ thuật đỉnh cao, giàu ý thức triết học và sở hữu sức hấp dẫn thẩm mỹ đặc trưng. Do đó, các truyền thống văn hóa khác nhau tất yếu sẽ tạo ra các hình thái kiến trúc cảnh quan khác nhau. Sự khác biệt trong ngôn ngữ tạo hình bên ngoài giữa kiến trúc cảnh quan Việt Nam và phương Tây bắt nguồn sâu xa từ những đặc trưng trong truyền thống văn hóa – từ nền tảng triết học, tôn giáo, đạo đức cho đến các quan niệm thẩm mỹ cốt lõi. Bài viết tiếp cận từ góc độ hệ giá trị văn hóa và quan niệm về tự nhiên. Thông qua việc đối chiếu giữa triết lý "Thuận thiên" của cảnh quan Việt Nam và khái niệm "Designed Wilderness" trong vườn phong cảnh Anh, nghiên cứu chỉ ra rằng sự khác biệt cốt lõi không nằm ở mức độ can thiệp vào tự nhiên mà nằm ở mục đích, hệ giá trị và cách thức con người kiến tạo quan hệ với tự nhiên. Trên cơ sở đó, bài viết gợi mở khả năng vận dụng tư duy cảnh quan truyền thống Việt Nam vào định hướng phát triển cảnh quan bền vững đương đại.

Từ hạ tầng xám đến hạ tầng sinh thái: Tư duy thành phố bọt biển cho TP Cần Thơ

Những năm gần đây, Thành phố Cần Thơ (đặc biệt là khu vực nội ô Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy), liên tục chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các trận mưa lớn và và triều cường, lớn nhất tháng 9, 10, 11 hàng năm, khiến nhiều khu vực nội thành rơi vào tình trạng ngập sâu kéo dài. Tình trạng ngập úng do triều cường cũng ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt tại TP Cần Thơ. Nhiều khu vực bị ngập sâu từ 0,6-0,7m, thời gian ngập kéo dài từ 4-6 giờ mỗi đợt triều, thậm chí lên tới 10-12 giờ khi xuất hiện mưa lớn kết hợp triều cường (Đào Văn, 2026). Ngập lụt tại đây diễn biến khá phức tạp đã gây trở ngại lớn cho nhiều hoạt động kinh tế, xã hội đặc biệt là kinh doanh buôn bán, hoạt động giao thông, sản xuất nông nghiệp, vệ sinh môi trường và bộ mặt cảnh quan đô thị ở thành phố.

Dinh Độc Lập - câu chuyện kiến trúc được viết bằng ánh sáng và bê tông

Bài viết phân tích Dinh Độc Lập như một trường hợp tiêu biểu của kiến trúc hiện đại được bản địa hóa tại Việt Nam thế kỷ 20. Thông qua việc đối chiếu với Dinh Norodom, công trình cho thấy sự chuyển dịch từ kiến trúc quyền lực mang tính áp đặt sang mô hình kiểm soát bằng không gian. Các yếu tố như “rèm hoa đá”, hệ biểu tượng Hán tự và tổ chức nội – ngoại thất được đều mang nhiều lớp ý nghĩa, vừa giải quyết khí hậu, vừa thể hiện văn hóa. Bên cạnh đó, hệ thống hầm ngầm cho thấy công trình còn được thiết kế để ứng phó với chiến tranh, hoàn thiện tính biểu tượng và phòng thủ của công trình. Từ đó, Dinh Độc Lập không chỉ là di tích lịch sử mà còn là một tổng thể kiến trúc kết hợp giữa hiện đại, bản sắc và quyền lực.

Vai trò của nghệ thuật bonsai trong thiết kế cảnh quan sân vườn đương đại tại Việt Nam

Nghệ thuật Bonsai ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong thiết kế cảnh quan sân vườn tại Việt Nam, tuy nhiên vai trò của yếu tố này chưa được phân tích một cách hệ thống dưới góc độ liên ngành. Bài viết này nhằm làm rõ vai trò của Bonsai trong cấu trúc cảnh quan thông qua 4 phương diện chính: thẩm mỹ, không gian, sinh thái, văn hóa. Kết quả cho thấy Bonsai không chỉ đóng vai trò tạo hình và tổ chức thị giác mà còn tham gia điều tiết vi khí hậu, đồng thời kiến tạo giá trị văn hóa và trải nghiệm cảm quan trong không gian sân vườn. Nghiên cứu đề xuất một khung phân tích đa chiều nhằm làm rõ vai trò tích hợp của Bonsai trong thiết kế cảnh quan đương đại tại Việt Nam.

Vườn thẳng đứng - giải pháp hạ tầng xanh trong phát triển đô thị nén tại Việt Nam

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và mật độ xây dựng gia tăng tại các đô thị lớn ở Việt Nam, quỹ đất dành cho không gian xanh ngày càng suy giảm, làm gia tăng các vấn đề môi trường đô thị như hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (UHI), ô nhiễm không khí, tiếng ồn và suy giảm chất lượng sống. Trước thực trạng đó, vườn thẳng đứng được xem là một giải pháp hạ tầng xanh tiềm năng, có khả năng tích hợp cây xanh vào bề mặt đứng công trình nhằm tối ưu hóa sử dụng không gian đô thị nén.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh