Từ bản kiến nghị gần 40 năm trước đến bài học hôm nay

Hồ Gươm: Vẻ đẹp thiên nhiên, chiều sâu lịch sử

Từ bản kiến nghị gần 40 năm trước đến bài học hôm nay

(Vietnamarchi) - Trong lịch sử phát triển đô thị Hà Nội, Hồ Gươm luôn là tâm điểm của những tranh luận về bảo tồn và phát triển. Ít ai biết rằng, từ những năm 1985–1987, khi những khái niệm như “di sản đô thị” hay “không gian công cộng” còn rất mới mẻ, một bản Kiến nghị về Hồ Gươm đã ra đời, đưa ra một góc nhìn có tính tiên phong: Hồ Gươm không chỉ là một mặt nước hay tập hợp các di tích riêng lẻ, mà là một chỉnh thể văn hóa – cảnh quan không thể thay thế.
21:46, 14/09/2026

Trong lịch sử phát triển đô thị Hà Nội, Hồ Gươm luôn là tâm điểm của những tranh luận về bảo tồn và phát triển. Ít ai biết rằng, từ những năm 1985-1987, khi những khái niệm như “di sản đô thị” hay “không gian công cộng” còn rất mới mẻ, một bản Kiến nghị về Hồ Gươm đã ra đời, đưa ra một góc nhìn có tính tiên phong: Hồ Gươm không chỉ là một mặt nước hay tập hợp các di tích riêng lẻ, mà là một chỉnh thể văn hóa - cảnh quan không thể thay thế.

Gần 40 năm đã trôi qua. Những trang giấy của bản kiến nghị đã ố vàng, những bức ảnh đã bạc màu theo thời gian. Nhưng khi nhìn lại, điều đáng suy ngẫm không chỉ là câu chuyện của một hồ sơ được làm cách đây nhiều thập niên, mà là những vấn đề mà bản kiến nghị đã đặt ra vẫn còn nguyên giá trị trước những thay đổi của Hà Nội hôm nay.

Câu hỏi cốt tử khi ấy cũng là câu hỏi của hôm nay:Làm thế nào để Hà Nội hiện đại hơn mà không đánh mất chính mình?

MỘT BẢN KIẾN NGHỊ ĐƯỢC LÀM HOÀN TOÀN THỦ CÔNG

Thực hiện lời hứa từ những chia sẻ trước, những hình ảnh quý giá về Bản Kiến nghị Hồ Gươm cách đây gần 40 năm hiện vẫn được KTS. Lê Phước Anh, cháu ngoại KTS. Tạ Mỹ Duật, trân trọng lưu giữ.

Nhìn những trang giấy ố vàng cùng các bức ảnh bạc màu thời gian, tôi bồi hồi nhớ lại bối cảnh ra đời của bản kiến nghị.

Mối duyên bắt đầu từ năm 1982, khi tôi còn là một kiến trúc sư trẻ. Được bác Nguyễn Khắc Viện dìu dắt, bác đã giới thiệu tôi với kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật để cùng làm bản kiến nghị.

Bác Tạ Mỹ Duật, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Hà Nội giai đoạn 1968 - 1975, là một kiến trúc sư thuộc thế hệ tiên phong của nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, có nhiều suy nghĩ sâu sắc về quy hoạch, kiến trúc và bản sắc đô thị Hà Nội. Trong bản kiến nghị, bác là người định hướng chủ yếu về tư duy quy hoạch và tổ chức không gian Hồ Gươm.

Còn bác Nguyễn Khắc Viện, nguyên Giám đốc Nhà Xuất bản Ngoại văn giai đoạn 1964 - 1984, là một trí thức uyên bác, nhà nghiên cứu văn hóa - xã hội có ảnh hưởng trong đời sống trí thức Việt Nam. Bác xây dựng các tư tưởng chủ đạo và trực tiếp chấp bút phần văn bản của bản kiến nghị.

Còn tôi, khi ấy là một kiến trúc sư trẻ, phụ trách nhiếp ảnh, trình bày và hoàn thiện hồ sơ.

Từng bố cục phác tay, từng dòng chữ sửa chữa, từng bức ảnh hiện trạng… tất cả đều được thực hiện hoàn toàn thủ công.

Nhưng điều chúng tôi đau đáu khi ấy không phải là hình thức của cuốn hồ sơ, mà là một câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để Hà Nội hiện đại hơn mà không đánh mất chính mình?

BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA MỘT TƯ DUY TIÊN PHONG

Đó là những năm đầu Đổi mới, khi phong trào “Nhà nước và nhân dân cùng làm” bắt đầu bùng nổ, đưa Hồ Gươm đứng trước một làn sóng biến đổi mạnh mẽ.

Tòa Bưu điện Bờ Hồ 5 tầng mang hình thức kiến trúc mới vừa hoàn thành năm 1978. Hàng loạt ý tưởng xây dựng trụ sở quy mô lớn, như UBND Thành phố, liên tục được đề xuất. Người dân cũng bắt đầu cải tạo nhà cửa để kinh doanh.

Quá trình thay đổi nhanh chóng và có phần thiếu kiểm soát đó đặt ra một câu hỏi nhói lòng:

Nếu mỗi công trình mới đều mang một ngôn ngữ kiến trúc riêng, điều gì sẽ xảy ra với toàn bộ cảnh quan Bờ Hồ?

Bản kiến nghị khi ấy không nhằm “đóng băng” Hồ Gươm. Hà Nội vẫn cần phát triển. Nhưng câu hỏi cốt tử là: phát triển ở đâu và như thế nào?

Đừng để sự phát triển từng chút một làm thay đổi toàn bộ không gian di sản mà không ai kịp nhận ra.

Đó là một cách nhìn rất đáng chú ý.

Bởi di sản không nhất thiết mất đi trong một lần phá bỏ. Nó có thể thay đổi từng chút một, qua từng công trình, từng cửa hàng, từng biển hiệu, từng cách tổ chức không gian. Đến một lúc nào đó, chúng ta có thể vẫn còn Tháp Rùa, còn Đền Ngọc Sơn, còn mặt nước Hồ Gươm, nhưng tổng thể cảnh quan đã không còn như trước.

TƯ DUY DI SẢN TỔNG THỂ

Điều quan trọng nhất mà bản kiến nghị đặt ra là cách nhìn Hồ Gươm như một chỉnh thể văn hóa - cảnh quan.

Thay vì coi bảo tồn là giữ gìn một vài công trình riêng lẻ, bản kiến nghị khẳng định giá trị cốt lõi của Hồ Gươm nằm ở sự hòa quyện giữa: mặt nước - cây xanh - bầu trời - đường phố - kiến trúc - con người  - ký ức lịch sử.

Một công trình dù đẹp độc lập nhưng phá vỡ tổng thể này vẫn là một tổn thương cho di sản.

Bản kiến nghị từng đặt vấn đề rất rõ về việc xây dựng tượng đài:

“Tạo ra những tượng đài không thể chỉ để ý đến mỹ quan của bản thân nó, mà phải chú ý đến việc tượng đài ấy có hài hòa với cảnh sắc chung quanh không. Như cạnh cây đa và đền Bà Kiệu đặt một tượng đài kiểu hiện đại quả là không phù hợp”.

Đằng sau câu nói ấy là một nguyên tắc rất giản dị: không có công trình nào tồn tại một cách riêng biệt trong không gian Hồ Gươm.

Công trình phải được nhìn trong mối quan hệ với cảnh quan chung quanh.

Một công trình đẹp ở nơi khác chưa chắc đã phù hợp ở Hồ Gươm.

Một công trình hiện đại chưa chắc đã làm cho Hồ Gươm hiện đại hơn.

Và một công trình có giá trị riêng chưa chắc đã làm giàu thêm giá trị của toàn bộ không gian.

DỰ BÁO TỪ GẦN 40 NĂM TRƯỚC

Có lẽ điều khiến người đọc hôm nay suy nghĩ nhiều nhất là những cảnh báo trong bản kiến nghị về nguy cơ cao tầng hóa và thương mại hóa Hồ Gươm.

Bản kiến nghị viết: “Vẻ đẹp của thiên nhiên, chiều sâu của lịch sử, nếu mất hai đặc tính ấy, thì không còn là Bờ Hồ nữa...” Và tiếp đó là một hình dung đầy ám ảnh:

“Chỉ cần năm bảy nhà cao tầng bằng hoặc cao hơn tòa Bưu điện, trên mỗi tòa lại chằng chịt điện đài, thì hồ Hoàn Kiếm chỉ còn là cái ao, tháp Rùa, đền Ngọc Sơn chỉ còn là những chuồng nuôi bồ câu, cầu Thê Húc chỉ còn là nơi ra ngồi vo gạo, rửa rau muống”.

Có thể hôm nay chúng ta đọc những câu chữ ấy bằng con mắt của một thời đại khác. Nhưng điều đáng nói là bản kiến nghị đã nhìn thấy từ rất sớm mối quan hệ giữa chiều cao công trình, đường chân trời, tỷ lệ không gian và giá trị cảnh quan.

Nguy cơ không nằm ở một tòa nhà đơn lẻ.

Nguy cơ nằm ở sự cộng dồn.

Một công trình có thể chưa làm thay đổi Hồ Gươm. Nhưng năm công trình, bảy công trình, rồi nhiều công trình khác nhau cùng xuất hiện sẽ làm thay đổi toàn bộ tỷ lệ và cảm nhận về không gian.

Đó chính là điều mà bản kiến nghị đã cảnh báo.

ĐỪNG BỊT ĐI “KHOẢNG THỞ” CỦA THÀNH PHỐ

Bản kiến nghị cũng đặt ra một vấn đề tưởng như rất đơn giản nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc đối với quy hoạch đô thị:“Nhất thiết không xây dựng những gì ngăn cản người ta nhìn ra toàn cảnh Bờ Hồ...”

Con người thành phố sống chen chúc giữa những dãy nhà cao. Trong một đô thị ngày càng chật chội, Hồ Gươm là một nơi nằm ngay giữa thành phố để con người không cần đi xa vẫn có thể nhìn ra mặt nước, cây xanh và bầu trời.

Bản kiến nghị viết:

“...có một nơi nằm ngay giữa thành phố không cần đi xa, để có thể cho con mắt tức tâm hồn mình thoát khỏi cảnh chật chội tù túng hàng ngày, mà ta lại bịt đi, trong lúc hô hào con người Hà Nội phải giữ lấy truyền thống thanh lịch”.

Đó không chỉ là câu chuyện về tầm nhìn.

Đó là câu chuyện về khoảng thở của một thành phố.

Khoảng trống, bầu trời, mặt nước, cây xanh và tầm nhìn không phải là những phần “chưa được khai thác”. Đó là những giá trị thuộc về cộng đồng. Nếu chúng ta làm mất đi những khoảng thở ấy, thành phố có thể có thêm công trình nhưng lại mất đi một phần chất lượng sống.

KHÔNG THỂ ĐỂ HỒ GƯƠM ÔM ĐỒM MỌI CHỨC NĂNG

Bản kiến nghị thẳng thắn đề xuất giảm tải cho Hồ Gươm. Đây không thể là nơi ôm đồm cùng lúc trung tâm hành chính, thương mại, giao thông lẫn giải trí đại chúng. Các cơ quan quy mô lớn cần chuyển chức năng phụ trợ ra trung tâm mới, chỉ giữ lại bộ phận tiếp tân hay liên lạc. Đồng thời, phát triển kinh tế quanh hồ phải đi liền với sự thanh nhã, tránh tư duy “hiện đại hóa vô tội vạ”.

Bản kiến nghị nêu: “Cửa hàng không được nhếch nhác, lộn xộn, mà còn phải được trang trí thanh nhã mang tính dân tộc rõ nét. Không được phép hiện đại hóa vô tội vạ... Hà Nội mà chạy theo Sài Gòn cũ hay Băng Cốc chỉ có thể làm được ở cấp thấp... Còn người trong nước lại mất đi một nơi để bồi dưỡng tình cảm và tâm tư”.

Điều đáng chú ý là bản kiến nghị không phủ nhận hoạt động kinh tế.

Vấn đề là kinh tế phải được đặt trong bản sắc của nơi chốn.

Giá trị kinh tế cao nhất của Hồ Gươm không đến từ việc tận dụng tối đa từng mét vuông đất để kinh doanh dịch vụ, mà đến từ giá trị cảnh quan, văn hóa và biểu tượng của cả vùng đô thị.

SỨC ÉP PHÁT TRIỂN VÀ NỘI LỰC BẢO TỒN

Năm 1999, khi đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Viện Công nghệ Châu Á (AIT), tôi tham dự Hội nghị Quốc tế về “Kinh tế Di sản” tại Penang, Malaysia để trình bày tham luận về Chiến lược Bảo tồn Khu phố Pháp.

Sau buổi nói chuyện, GS. William (Bill) Logan - học giả về di sản đô thị, người am hiểu sâu sắc về Việt Nam và là tác giả cuốn sách Hà Nội: Lý lịch một thành phố - đã chủ động tìm tôi trao đổi.

Ông đưa ra một nhận định đầy sức nặng: di sản khu vực Hoàn Kiếm, Phố Cổ và Phố Pháp đã bị xâm hại quá nhiều, rất khó trở thành Di sản Thế giới. Hơn nữa, người ta nói với ông rằng phong trào bảo tồn ở Việt Nam thực chất là do quốc tế thúc đẩy từ bên ngoài.

Lời nhận xét thẳng thắn khiến tôi lặng người, nhưng lập tức lấy lại bình tĩnh để đáp lời: Các di sản như Huế hay Hội An có tiềm năng bảo tồn lớn nhờ chịu ít sức ép đô thị hóa. Trong khi đó, Hà Nội là Thủ đô - sự xung đột gay gắt giữa sức ép phát triển và tiềm năng bảo tồn khiến chính sách bảo tồn di sản gặp muôn vàn khó khăn.

Nhưng phong trào bảo tồn tại Hà Nội không phải xuất phát từ bên ngoài. Nó đã bắt đầu từ rất lâu trước khi bạn bè quốc tế chú ý tới.

Để minh chứng, tôi kể cho ông nghe về Bản Kiến nghị Hồ Gươm năm 1986 - một dấu ấn do KTS. Tạ Mỹ Duật và nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện khởi xướng, cùng sự tham gia của tôi khi ấy trong vai trò một kiến trúc sư trẻ.

Chính tiếng nói tiên phong của đội ngũ trí thức, chuyên gia trong nước, kết hợp với sự hỗ trợ quốc tế và sức ép dư luận đã góp phần làm thay đổi tư duy quản lý: Hồ Gươm được nhìn nhận như một không gian di sản đặc biệt, gắn liền hữu cơ với Khu phố Cổ, Khu phố Cũ và hệ thống di tích phụ cận.

Đây cũng là một bài học quan trọng: bảo tồn Hà Nội trước hết phải có nội lực từ chính Hà Nội.

TỪ BẢN KIẾN NGHỊ ĐẾN HỒ GƯƠM HÔM NAY

Nhiều thập kỷ trôi qua, Hà Nội đã có những bước tiến dài. Nhận thức cộng đồng được nâng cao, không gian phố đi bộ được mở rộng, giao thông khu vực trung tâm từng bước được kiểm soát tốt hơn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh thành phố tiếp tục đẩy mạnh cải tạo, chỉnh trang và quy hoạch không gian quanh Hồ Gươm, những trăn trở từ bản kiến nghị năm xưa vẫn soi rọi nhiều vấn đề thời sự.

Các dự án cải tạo hạ tầng, lát đá vỉa hè, chiếu sáng nghệ thuật hay xây dựng công trình phụ trợ quanh hồ hiện nay chỉ thực sự thành công nếu tôn trọng tính nguyên bản và “mối quan hệ tổng thể” mà bản kiến nghị đã chỉ ra.

Một công trình mới có thể đẹp hơn, nhưng tổng thể có thể nghèo đi.

Một không gian có thể trở nên “đẹp hơn” sau khi cải tạo nhưng lại mất đi vẻ riêng vốn có.

Vì vậy, bài học quan trọng của câu chuyện Hồ Gươm không nằm ở việc “giữ nguyên tất cả”, mà trước hết là phải hiểu rõ điều gì làm nên giá trị của nơi chốn trước khi quyết định thay đổi nó.

Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng.

Nhưng “hiện đại hóa” cũng không thể chỉ là thay cái cũ bằng cái mới, lát lại cho đẹp hơn hay xây dựng thêm những công trình hoành tráng hơn.

SÁU NGUYÊN TẮC NHÌN TỪ BẢN KIẾN NGHỊ

Trước các phương án chỉnh trang Hồ Gươm hiện nay, tư tưởng của bản kiến nghị từ gần 40 năm trước có thể được hệ thống hóa thành sáu nguyên tắc.

Một là, nhìn Hồ Gươm như một chỉnh thể di sản. Không quản lý riêng rẽ Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, mặt nước hay cây xanh, mà phải quản lý toàn bộ hệ sinh thái di sản đồng bộ.

Hai là, bảo vệ không gian mở. Giữ gìn khoảng trống, bầu trời và tầm nhìn – những giá trị tuy không có “chủ sở hữu” cụ thể nhưng thuộc về cộng đồng.

Ba là, kiểm soát nghiêm ngặt công trình mới. Kiến trúc đẹp ở nơi khác chưa chắc phù hợp tại đây. Công trình mới phải được đánh giá dựa trên tác động tới toàn bộ cảnh quan di sản chứ không chỉ dựa vào công năng hay hiệu quả kinh tế.

Bốn là, giảm tải áp lực đô thị. Ưu tiên không gian cho người đi bộ, đời sống văn hóa và cộng đồng; hạn chế giao thông cơ giới, bãi đỗ xe và thương mại lấn áp. Đây cũng là hướng đi Hà Nội đã từng bước thực hiện qua không gian phố đi bộ.

Năm là, tôn trọng “sức chứa” di sản. Không gian di sản có ngưỡng chịu đựng. Mật độ du khách, giao thông, thương mại hay quảng cáo quá tải sẽ làm triệt tiêu chính giá trị thu hút của Hồ Gươm.

Sáu là, cần một cơ chế quản trị lâu dài. Bảo vệ Hồ Gươm bằng ranh giới rõ ràng, quy chế chiều cao, kiểm soát biển hiệu và đánh giá tác động di sản; tiến tới một “Hiến chương quản lý không gian di sản” dài hạn thay vì những quyết định tình thế.

Các công trình xây dựng và kiến trúc xung quanh hồ cần tôn trọng cấu trúc thấp tầng, gắn kết không gian cây xanh và mặt nước hồ.

Những nguyên tắc này tương thích với tinh thần của Hiến chương Bảo tồn các Thị trấn và Khu vực Đô thị Lịch sử (ICOMOS), trong đó nhấn mạnh yêu cầu các chức năng mới phải phù hợp với đặc điểm khu vực lịch sử và việc xây mới hay cải tạo phải tôn trọng bố cục không gian hiện tại về quy mô và tỷ lệ.

HỒ GƯƠM TỐT HƠN HAY HỒ GƯƠM VẪN LÀ CHÍNH MÌNH?

Khi nhiều người đặt câu hỏi: Có thể xây hay kinh doanh thêm gì quanh Hồ Gươm?, thì bản kiến nghị từ gần 40 năm trước lại để lại một khoảng lặng đáng suy ngẫm:

Nếu cứ tiếp tục xây thêm và khai thác, cuối cùng Hồ Gươm sẽ còn lại điều gì?

Sau khi mọi thứ trở nên mới hơn, liệu Hồ Gươm có còn là Hồ Gươm nữa không? Đó là câu hỏi không nhằm phủ nhận phát triển. Đó là câu hỏi để mỗi quyết định phát triển phải tự trả lời về giá trị mà nó tạo ra và giá trị mà nó có thể làm mất đi. Một thành phố có thể có thêm nhiều công trình mới mà vẫn nghèo đi về ký ức.

Một không gian có thể trở nên “đẹp hơn” sau cải tạo nhưng lại mất đi vẻ riêng vốn có.

Giá trị của Hồ Gươm không nằm ở một công trình đơn lẻ. Nó nằm trong tổng thể: mặt nước, cây xanh, đường phố, kiến trúc, tỷ lệ không gian và những ký ức được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Bởi vậy, một thành phố văn minh không chỉ được đánh giá bằng những gì nó xây mới, mà còn bằng những di sản nó đủ sáng suốt và bản lĩnh để giữ gìn.

Đứng trước các phương án chỉnh trang Hồ Gươm hiện tại, bài học từ gần 40 năm trước vẫn thật giản dị:Trước khi quyết định xây thêm thứ gì, phải hiểu rõ thứ đang có mang giá trị gì. Và có lẽ, đó cũng chính là điều bản Kiến nghị Hồ Gươm muốn gửi lại cho hôm nay:

MỘT HỒ GƯƠM TỐT HƠN TRƯỚC HẾT PHẢI LÀ MỘT HỒ GƯƠM VẪN CÒN LÀ CHÍNH NÓ.

Ninh Bình: Đánh thức di sản kiến trúc, định vị thương hiệu du lịch

Mỗi vùng đất có thể được nhận diện qua núi non, sông nước hay lịch sử ngàn năm. Nhưng với Ninh Bình, dấu ấn sâu đậm nhất lại nằm trong từng mái ngói, phiến đá, đường nét chạm khắc còn lưu giữ tại Cố đô Hoa Lư hay sự giao thoa kiến trúc Đông - Tây độc đáo ở Nhà thờ đá Phát Diệm. Từ đó, Ninh Bình đang đi theo hướng biến di sản kiến trúc - văn hóa thành động lực cốt lõi cho thương hiệu du lịch, hướng tới mục tiêu trở thành Đô thị Di sản Thiên niên kỷ.

Đánh thức giá trị di sản kiến trúc, kiến tạo động lực phát triển bền vững

Di sản kiến trúc không chỉ lưu giữ ký ức, bản sắc văn hóa của mỗi vùng đất mà còn là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch và kinh tế địa phương. Tuy nhiên, trước sức ép đô thị hóa và khai thác thương mại, nhiều công trình có giá trị đang xuống cấp, biến dạng hoặc dần mai một, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Xung quanh vấn đề này, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (Viện Kiến trúc Quốc gia – Bộ Xây dựng) đã có cuộc trao đổi với ông Lê Công Năng, Tổng Giám đốc Wonder Tour.

Di sản kiến trúc họ Trần tại Trà Lũ: không gian của cội nguồn và sức sống văn hóa

Giữa nhịp sống hiện đại đầy biến động, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, vẫn có những không gian bền bỉ gìn giữ căn cốt văn hóa dân tộc. Tại Trà Lũ (xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, Nam Định – nay thuộc Ninh Bình), di sản kiến trúc ngôi từ đường họ Trần là một minh chứng điển hình. Không chỉ là những công trình thờ tự cổ kính, nơi đây còn là một thiết chế văn hóa đặc biệt – nơi kết nối các thế hệ, duy trì gia phong và nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng.

Quy hoạch, tu bổ Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần, tỉnh Hưng Yên

Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính vừa ký Quyết định số 478/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần, tỉnh Hưng Yên.

Kiến trúc của Bưu điện Hoa Kỳ và việc tư nhân hóa không gian công cộng

Bưu điện là một trong những công trình kiến ​​trúc trường tồn nhất của đời sống công dân ở Hoa Kỳ . Khắp các thị trấn và trung tâm thành phố, chúng thể hiện những tham vọng kiến ​​trúc thay đổi của thế kỷ XIX và XX, từ sự trang trọng của phong cách Phục hưng Hy Lạp đến sự hoành tráng của phong cách Beaux-Arts và sự trang trí cầu kỳ của phong cách Art Deco. Các kiến ​​trúc sư và các nhà quy hoạch liên bang đã trao cho những tòa nhà này một vai trò công cộng rõ ràng và một sự hiện diện vật chất mạnh mẽ. Mặt tiền bằng đá, sảnh đường đồ sộ và nội thất được chế tác tỉ mỉ thể hiện sự ổn định, tin cậy và trường tồn. Bưu điện đã đưa chính phủ liên bang trực tiếp vào đời sống thường nhật của người Mỹ.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh