Sunshine Group khởi công đại đô thị 2 tỷ USD Noble Rivera ĐÁNH THỨC DI SẢN KIẾN TRÚC – KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Di sản kiến trúc không chỉ lưu giữ ký ức, bản sắc văn hóa của mỗi vùng đất mà còn là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch và kinh tế địa phương. Tuy nhiên, trước sức ép đô thị hóa và khai thác thương mại, nhiều công trình có giá trị đang xuống cấp, biến dạng hoặc dần mai một, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Xung quanh vấn đề này, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (Viện Kiến trúc Quốc gia – Bộ Xây dựng) đã có cuộc trao đổi với ông Lê Công Năng, Chủ tịch HĐQT WonderTour.
PV: Từ thực tiễn hoạt động du lịch, ông đánh giá như thế nào về vai trò của di sản kiến trúc trong việc tạo dựng bản sắc và nâng cao sức hấp dẫn của một điểm đến?
Ông Lê Công Năng, Chủ tịch HĐQT WonderTour: Theo tôi, di sản kiến trúc chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên “ký ức” và bản sắc của một điểm đến. Du khách có thể tìm thấy những khách sạn hiện đại, trung tâm thương mại hay những khu vui chơi tương tự nhau ở rất nhiều quốc gia, nhưng một công trình kiến trúc gắn với lịch sử, văn hóa và đời sống của một vùng đất thì gần như không thể sao chép. Chính sự độc bản đó tạo nên sức hấp dẫn lâu dài của điểm đến.

Từ góc độ doanh nghiệp lữ hành, chúng tôi nhìn di sản kiến trúc không đơn thuần là một điểm check-in, mà là một “tài sản trải nghiệm”. Một ngôi đình, một phố cổ, một biệt thự Pháp, một nhà ga, một khu phố cũ hay một công trình tôn giáo nếu được kể đúng câu chuyện sẽ trở thành lý do để du khách lựa chọn điểm đến, ở lại lâu hơn và quay trở lại.
Vì vậy, thay vì chỉ hỏi “di sản này có bao nhiêu khách đến tham quan?”, tôi cho rằng cần đặt câu hỏi rộng hơn: “Di sản này tạo ra bao nhiêu giá trị cho điểm đến và cộng đồng?”. Khi trả lời được câu hỏi đó, chúng ta sẽ nhìn thấy rõ hơn vai trò của di sản trong phát triển du lịch.
PV: Theo ông, di sản kiến trúc có thể mang lại những giá trị kinh tế và xã hội cụ thể nào cho địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư?
Ông Lê Công Năng: Di sản có thể tạo ra giá trị theo nhiều tầng. Trước hết là trực tiếp thông qua vé tham quan, tour du lịch, lưu trú, ẩm thực, mua sắm, dịch vụ trải nghiệm. Nhưng quan trọng hơn là giá trị gián tiếp khi một di sản trở thành thương hiệu của địa phương, kéo theo dòng khách và dòng tiền cho cả hệ sinh thái kinh tế xung quanh.
Ví dụ, một khu phố có kiến trúc đặc trưng không chỉ bán được vé tham quan. Du khách đến đó còn sử dụng dịch vụ lưu trú, ăn uống, mua sản phẩm thủ công, thuê hướng dẫn viên, trải nghiệm văn hóa. Người dân địa phương vì thế có thêm sinh kế. Doanh nghiệp có thêm cơ hội đầu tư. Chính quyền có thêm nguồn lực để tái đầu tư cho bảo tồn.
Đó là mô hình rất đáng hướng tới: di sản tạo ra giá trị kinh tế, kinh tế quay trở lại nuôi dưỡng di sản và cộng đồng trở thành người hưởng lợi trực tiếp từ quá trình này.
Không phải di sản nào cũng cần đón hàng triệu lượt khách. Có những địa điểm phù hợp với nhóm khách nhỏ, trải nghiệm chuyên sâu và mức chi tiêu cao. Mô hình này đôi khi mang lại giá trị kinh tế tốt hơn nhiều so với việc đưa một lượng khách quá lớn vào cùng một thời điểm.

Doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm. WonderTour quan điểm rằng không thể chỉ đưa khách đến điểm đến rồi coi nhiệm vụ của mình đã hoàn thành. Chúng tôi cần lựa chọn đối tác, điểm tham quan, dịch vụ địa phương phù hợp; hướng dẫn du khách tuân thủ quy định; hạn chế những hành vi gây tác động tiêu cực đến không gian di sản.
Đồng thời, địa phương cần có quy hoạch rõ ràng về lượng khách, thời gian khai thác, khu vực được phép kinh doanh, khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt và cơ chế phân bổ nguồn thu cho công tác bảo tồn.
PV: Nhiều địa phương sở hữu nguồn tài nguyên di sản phong phú nhưng chưa tạo được sản phẩm du lịch đặc sắc. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính của tình trạng này?
Ông Lê Công Năng: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất không phải là thiếu di sản mà là thiếu tư duy sản phẩm và năng lực kể chuyện.
Nhiều nơi đang khai thác di sản theo cách khá giống nhau: đưa khách đến tham quan, chụp ảnh, nghe một bài thuyết minh rồi rời đi. Như vậy, chúng ta mới đang “giới thiệu di sản” chứ chưa thực sự “bán trải nghiệm di sản”.

Một di sản muốn trở thành sản phẩm du lịch cần được nghiên cứu dưới góc độ thị trường: khách nào muốn đến, họ muốn trải nghiệm điều gì, thời gian bao lâu, mức chi tiêu ra sao và trải nghiệm đó có thể kết nối với những sản phẩm nào khác.
Tôi cho rằng cần chuyển từ tư duy “có gì bán nấy” sang “khách muốn gì và di sản có thể tạo ra trải nghiệm gì”. Đây là khoảng trống mà doanh nghiệp lữ hành có thể tham gia sâu hơn.
PV: Không ít công trình kiến trúc có giá trị đang xuống cấp, bị biến dạng hoặc dần mai một. Từ góc nhìn của doanh nghiệp du lịch, ông nhận diện vấn đề này như thế nào?
Ông Lê Công Năng: Đây là một vấn đề rất đáng lo ngại. Di sản một khi mất đi thì rất khó phục hồi nguyên trạng. Chúng ta có thể xây một công trình mới đẹp hơn, hiện đại hơn, nhưng không thể “xây lại” một ký ức lịch sử đã mất.
Tuy nhiên, bảo tồn cũng không nên được hiểu là đóng cửa di sản và giữ nguyên mọi thứ bất kể nhu cầu của xã hội. Nếu di sản không được sử dụng, không tạo ra giá trị và không có nguồn lực duy tu thì nguy cơ xuống cấp vẫn rất lớn.
Vấn đề là phải tìm được điểm cân bằng: bảo tồn giá trị cốt lõi nhưng cho phép những hình thức khai thác phù hợp với đời sống đương đại.
Đặc biệt, việc cải tạo phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng cấu trúc, vật liệu, cảnh quan và câu chuyện lịch sử của công trình; tránh tình trạng “trùng tu” nhưng cuối cùng lại làm mất đi chính giá trị nguyên bản của di sản.
PV: Việc khai thác du lịch thiếu kiểm soát có thể gây áp lực lên di sản và đời sống cộng đồng. Theo ông, cần làm gì để cân bằng giữa bảo tồn và phát triển?
Ông Lê Công Năng: Theo tôi, trước hết cần quản trị di sản dựa trên sức chứa, thay vì chạy theo mục tiêu thu hút càng nhiều khách càng tốt. Mỗi điểm đến cần xác định rõ khả năng tiếp nhận khách theo từng thời điểm, trên cơ sở đánh giá mức độ chịu tải của công trình, cảnh quan, hạ tầng và cộng đồng dân cư. Khi lượng khách vượt quá giới hạn, không chỉ di sản có nguy cơ xuống cấp mà đời sống, sinh hoạt và không gian văn hóa của người dân địa phương cũng bị xáo trộn.
Cùng với đó, cần tổ chức lại hoạt động du lịch theo hướng phân luồng khách, giãn thời gian và mở rộng không gian trải nghiệm; hạn chế tập trung quá đông tại một số điểm di sản. Việc ứng dụng công nghệ trong đặt vé, kiểm soát lượng khách và theo dõi tác động lên di sản sẽ giúp cơ quan quản lý chủ động điều tiết, thay vì xử lý khi tình trạng quá tải đã xảy ra.
Quan trọng hơn, cộng đồng địa phương phải được tham gia vào quá trình quản lý, khai thác và hưởng lợi công bằng từ du lịch. Một phần nguồn thu cần được tái đầu tư cho công tác bảo tồn, cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Chỉ khi bảo tồn trở thành nền tảng, cộng đồng trở thành chủ thể và lợi ích kinh tế được phân bổ hợp lý, du lịch di sản mới có thể phát triển bền vững.
PV: Để di sản không chỉ là nơi tham quan mà trở thành một trải nghiệm văn hóa có chiều sâu, doanh nghiệp cần đổi mới cách xây dựng sản phẩm và kể câu chuyện về điểm đến như thế nào?
Ông Lê Công Năng: Theo tôi, doanh nghiệp phải chuyển từ “thuyết minh về di sản” sang “kể câu chuyện của con người trong di sản”.
Du khách thường không nhớ một danh sách các mốc thời gian, nhưng họ nhớ một câu chuyện hay, một nhân vật, một món ăn, một âm thanh, một nghề truyền thống hoặc một trải nghiệm mà chính họ được tham gia.
Chẳng hạn, thay vì chỉ đưa khách đến một làng nghề để xem sản phẩm, có thể xây dựng hành trình để du khách gặp nghệ nhân, tự làm sản phẩm, nghe câu chuyện gia đình, thưởng thức món ăn địa phương và mang sản phẩm đó về nhà. Khi ấy, di sản không còn là “vật thể để nhìn” mà trở thành giá trị để trải nghiệm.
Đó cũng là cách để kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách mà không cần khai thác di sản theo hướng đại trà.
PV: Ông đánh giá ra sao về việc tái thiết, cải tạo và tái sử dụng các công trình kiến trúc cũ thành không gian văn hóa, sáng tạo hoặc dịch vụ du lịch?
Ông Lê Công Năng: Tôi đánh giá đây là hướng đi rất đáng khuyến khích nếu được thực hiện đúng nguyên tắc bảo tồn. Một công trình cũ nếu chỉ được giữ lại như một “bảo tàng đóng kín” thì khả năng tạo ra giá trị xã hội và kinh tế sẽ hạn chế.
Có thể nghiên cứu mô hình tái sử dụng thích ứng: nhà cũ trở thành không gian sáng tạo, trung tâm văn hóa, bảo tàng tương tác, quán cà phê văn hóa, không gian nghệ thuật, điểm biểu diễn, cửa hàng thủ công hoặc một phần của tuyến du lịch.
Nhưng cần phân loại rõ công trình nào được phép cải tạo ở mức nào. Không thể áp dụng một công thức cho tất cả di sản. Với những công trình có giá trị đặc biệt, việc bảo tồn phải đặt lên hàng đầu; với những công trình có khả năng thích ứng cao hơn, có thể cho phép khai thác linh hoạt.
PV: Cần xây dựng cơ chế nào để cộng đồng địa phương thực sự tham gia, được hưởng lợi và trở thành chủ thể trong quá trình bảo tồn, khai thác di sản?
Ông Lê Công Năng: Theo tôi, nguyên tắc quan trọng nhất là người dân phải nhìn thấy lợi ích của việc bảo tồn.
Nếu yêu cầu người dân giữ gìn một ngôi nhà cổ, duy trì một nghề truyền thống hay bảo vệ cảnh quan nhưng họ không có thêm sinh kế thì rất khó duy trì lâu dài.
Cần xây dựng cơ chế để người dân có thể tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị du lịch: làm homestay, ẩm thực, hướng dẫn trải nghiệm, sản xuất thủ công, biểu diễn văn hóa, bán sản phẩm địa phương… Đồng thời, một phần nguồn thu từ hoạt động du lịch cần được tái đầu tư cho cộng đồng và bảo tồn.
Khi người dân trở thành chủ thể kinh tế của di sản, họ sẽ có động lực bảo vệ di sản tốt hơn rất nhiều.
PV: Từ kinh nghiệm của Wonder Tour, ông có thể chia sẻ những mô hình hoặc bài học tiêu biểu về phát triển sản phẩm du lịch gắn với di sản kiến trúc?
Ông Lê Công Năng: Một bài học chúng tôi rút ra là không nên tách di sản khỏi đời sống đương đại. Khách hàng ngày nay, đặc biệt là khách trẻ và khách quốc tế, không chỉ muốn “đi xem” mà muốn “được sống trong câu chuyện”.
Vì vậy, WonderTour có xu hướng xây dựng sản phẩm theo tuyến và theo chủ đề, kết nối kiến trúc với lịch sử, ẩm thực, con người, nghệ thuật và đời sống địa phương. Đặc biệt, các sản phẩm trải nghiệm vào buổi tối có thể giúp khai thác di sản theo một góc nhìn khác, đồng thời kéo dài thời gian khách ở lại điểm đến.
Tôi cho rằng đây chính là hướng để doanh nghiệp du lịch tham gia vào công cuộc bảo tồn một cách thiết thực: biến giá trị di sản thành sản phẩm có doanh thu, và dùng một phần giá trị đó để quay trở lại nuôi dưỡng hệ sinh thái di sản.

PV: Để đưa di sản kiến trúc trở thành nguồn lực lâu dài cho phát triển bền vững, theo ông, cần hoàn thiện những chính sách gì về quy hoạch, đầu tư, bảo tồn và hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp với cộng đồng?
Theo tôi, cần một cách tiếp cận tổng thể thay vì mỗi ngành làm một phần việc riêng. Trước hết phải có quy hoạch di sản rõ ràng, xác định cụ thể khu vực bảo vệ, khu vực được khai thác và khả năng khai thác của từng loại công trình.
Thứ hai, cần có cơ chế huy động nguồn lực xã hội. Nhà nước không thể một mình bỏ ngân sách để bảo tồn toàn bộ di sản, trong khi doanh nghiệp lại khó đầu tư nếu không có cơ chế đủ rõ ràng về quyền khai thác, thời hạn hợp tác và trách nhiệm bảo tồn. Cần thiết kế mô hình hợp tác công – tư minh bạch để doanh nghiệp có thể tham gia nhưng không biến di sản thành công cụ khai thác thương mại thuần túy.
Thứ ba, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng và tái đầu tư nguồn thu cho bảo tồn.
Và cuối cùng, tôi cho rằng cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả của du lịch di sản. Không nên chỉ nhìn vào số lượt khách. Cần đo bằng thời gian lưu trú, mức chi tiêu, mức độ hài lòng, tỷ lệ quay lại, thu nhập của cộng đồng và tình trạng bảo tồn của di sản.
Nếu một điểm đến đón ít khách hơn nhưng khách ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn, người dân có thu nhập tốt hơn và di sản được bảo tồn tốt hơn thì đó mới là tăng trưởng bền vững.
Ở góc độ doanh nghiệp, tôi cho rằng mục tiêu cuối cùng không phải là “khai thác được bao nhiêu từ di sản”, mà là làm thế nào để mỗi đồng doanh thu từ du lịch hôm nay góp phần giúp di sản còn nguyên giá trị cho thế hệ mai sau. Khi đó, di sản kiến trúc không chỉ là ký ức của quá khứ mà thực sự trở thành nguồn lực cho tương lai.