Nạn đói năm 1945 dưới góc nhìn sử học và khát vọng độc lập dân tộc

Nạn đói năm 1945 dưới góc nhìn sử học và khát vọng độc lập dân tộc

(Vietnamarchi) - Tháng Tám và tháng Chín hằng năm là thời điểm đặc biệt trong dòng chảy lịch sử hiện đại Việt Nam. Đó không chỉ là dịp để toàn dân tộc tưởng nhớ và tự hào về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là thời khắc để suy ngẫm về những nguyên nhân sâu xa đã thôi thúc nhân dân Việt Nam vùng lên giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Trong đó, nạn đói năm 1945, với hơn hai triệu người chết không thể bị lãng quên như một biến cố ngẫu nhiên, mà cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc như một nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc.
20:27, 29/07/2025

Cuốn sách Sự thật về nạn đói năm 1945 (qua tư liệu và ký ức lịch sử) của nhà sử học Nguyễn Quang Ân, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành, là một công trình nghiên cứu công phu, tiếp cận nạn đói không chỉ như một sự kiện nhân đạo mà còn như một mắt xích quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Với hơn 700 trang tư liệu, khảo cứu và điều tra thực địa, cuốn sách góp phần cung cấp thêm các chứng cứ xác đáng, các góc nhìn khách quan, giúp làm rõ bản chất, nguyên nhân, hậu quả cũng như mối liên hệ giữa thảm họa đói năm 1945 và Cách mạng Tháng Tám.

Một điểm đáng chú ý trong công trình là cách tiếp cận liên ngành và đa chiều. Tác giả không chỉ sưu tầm tài liệu đương thời gồm các sắc lệnh, bài báo, truyền đơn của cả phía chính quyền Nhật - Pháp và Mặt trận Việt Minh mà còn trực tiếp thực hiện cuộc điều tra xã hội học lịch sử tại 19 địa điểm ở 8 tỉnh miền Bắc từ đầu những năm 1990. Các tư liệu điều tra định lượng từ Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phú và Hưng Yên cho thấy mức độ khốc liệt của nạn đói vượt xa mọi mô tả văn chương.

Tại nhiều xã như Việt Thuận (Thái Bình), Quần Mục (Hải Phòng) hay Tây Yên (Ninh Bình), số người chết đói chiếm tới 40-50% dân số trong vòng vài tháng. Những câu chuyện người dân ăn rêu, gặm vỏ chuối, đập chuột nướng ăn, hay nhặt xác người để… nấu cháo, không còn là truyền miệng mà được ghi lại bằng chứng cứ khảo sát, nhân chứng, ảnh chụp và thống kê cụ thể. Những số liệu lạnh lùng của hàng chục ngàn người chết ở từng tỉnh, xác người chất đống ngoài nghĩa địa, trẻ em lang thang xin ăn bên xác mẹ đã trở thành tiếng nói tố cáo hùng hồn nhất về một thảm họa do con người gây ra.

Điều quan trọng là, cuốn sách đã đặt nạn đói năm 1945 trong một bối cảnh lịch sử đầy đủ, liên kết giữa yếu tố thiên tai và các chính sách áp bức. Không thể phủ nhận mưa lớn, bão lụt, sâu bệnh và mất mùa là những nguyên nhân tự nhiên dẫn đến thiếu lương thực. Nhưng căn nguyên sâu xa và trực tiếp chính là chính sách bóc lột, trưng thu thóc gạo khắc nghiệt của phát xít Nhật và thực dân Pháp. Hàng trăm nghìn hecta lúa ở đồng bằng Bắc Bộ bị buộc nhổ để trồng đay phục vụ chiến tranh. Tuyến vận tải gạo từ Nam ra Bắc bị cắt đứt. Thóc gạo bị cấm bán, cấm lưu thông, bị tích trữ theo lệnh nhà nước. Thuế thân vẫn thu, thậm chí còn tăng trong thời điểm nhân dân chết đói. Trong khi ấy, bộ máy cai trị lại bất lực, thờ ơ, thậm chí tham nhũng trong cả việc phát gạo cứu đói.

Từ phân tích các văn bản gốc, Nguyễn Quang Ân khẳng định đây là một “nhân họa”, một thảm kịch do chính sách phi nhân đạo của chính quyền chiếm đóng gây ra, với sự tiếp tay của một bộ phận tay sai. Đặt nạn đói vào dòng chảy lịch sử, cuốn sách cho thấy chính thảm họa này đã trở thành giọt nước tràn ly, khiến lòng căm phẫn và tuyệt vọng trong dân chúng bùng phát thành sức mạnh cách mạng. Hàng triệu người Việt Nam không chỉ chết đói, mà còn chết trong uất nghẹn vì bị bóc lột, bỏ rơi và tước đoạt nhân phẩm. Chính điều đó đã thổi bùng khát vọng độc lập, thôi thúc toàn dân vùng lên trong Cách mạng Tháng Tám.

Dưới góc nhìn sử học, nạn đói 1945 không còn là một sự kiện tách rời hay một bi kịch nhân đạo đơn lẻ, mà là một phần không thể thiếu của tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến thảm họa này như một bằng chứng không thể chối cãi về tội ác của chế độ thực dân – phát xít và tính chính đáng của nền độc lập dân tộc. Ngày 2/9/1945 vì thế không chỉ là ngày khai sinh một quốc gia, mà còn là ngày khép lại một chương bi thương và mở ra hy vọng cho hàng triệu người đang giành lại quyền sống.

Gần 80 năm đã trôi qua kể từ mùa xuân tang tóc ấy, nhưng việc đọc và suy ngẫm về Sự thật về nạn đói năm 1945 vẫn là một hành động cần thiết. Bởi trong một thế giới đầy biến động, nơi ký ức lịch sử dễ bị lãng quên trước những ồn ào của hiện tại, việc hiểu rõ nỗi đau của quá khứ chính là cách tốt nhất để trân trọng hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Lịch sử không chỉ là những gì đã qua, mà còn là thứ tiếp tục định hình cách chúng ta sống, nghĩ và lựa chọn ngày hôm nay.

Ngôn ngữ hình học của hoa sắt tại cụm biệt thự Hui Bon Hoa, Sài Gòn (1920-1930)

Cụm biệt thự Hui Bon Hoa tại Sài Gòn (1920-1930) là quần thể kiến trúc tiêu biểu phản ánh diện mạo tư sản đô thị Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Trong khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận từ góc độ lịch sử - xã hội, hệ thống hoa sắt trang trí tại đây chưa được phân tích một cách hệ thống dưới góc nhìn mỹ thuật học. Dựa trên khảo sát thực địa, đo vẽ và số hóa vector, bài viết làm rõ cấu trúc hình học, nguyên lý module và đặc điểm tạo hình của các mẫu hoa sắt còn tồn tại. Kết quả cho thấy hệ hoa sắt vận hành theo nhịp lặp tuyến tính, cấu trúc đối xứng tứ phương và các mô típ như vô cực giao thoa, cung bán nguyệt lặp tầng và tổ hợp hình học trung tâm, thể hiện rõ ảnh hưởng Art Deco, đồng thời phản ánh quá trình bản địa hóa trong giao thoa Đông – Tây.

Tiếp cận mô hình không gian sống bền vững cho nhà ở xã hội Việt Nam từ lăng kính bản địa hóa kiến trúc

(KTVN 259+260) Bài viết phân tích những định hướng cốt lõi cho phát triển kiến trúc nhà ở xã hội trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế - xã hội và thách thức môi trường hiện nay. Ở đây, nhấn mạnh rằng tương lai của nhà ở xã hội không chỉ phụ thuộc vào chính sách và chi phí xây dựng, mà chủ yếu dựa vào đột phá trong tư duy kiến tạo không gian, ứng dụng vật liệu mới và khai thác tối đa tri thức bản địa.

Cải tạo đường Hồ Tây: Mở lối cho một không gian văn hóa quốc tế của Hà Nội

Thực hiện đề án "Bảo tồn và phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và phụ cận" của TP Hà Nội, dự án cải tạo, mở rộng các tuyến đường ven hồ đang được kỳ vọng sẽ giải bài toán bức thiết về giao thông, sinh thái và mở ra một tương lai mới cho Hồ Tây: trở thành không gian công cộng, điểm đến văn hóa – du lịch tầm quốc tế và nơi diễn ra các hoạt động giao lưu, trình diễn quy mô của Thủ đô.

Thúc đẩy phát triển mô hình NOXH thông qua kinh nghiệm quy hoạch kiến trúc hiệu quả trên thế giới

(KTVN 259+260) Phát triển nhà ở xã hội (NOXH) đang trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển đô thị bền vững tại Việt Nam. Bài viết phân tích bối cảnh chính sách mới, thực trạng triển khai, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và đề xuất giải pháp quy hoạch - kiến trúc nhằm nâng cao chất lượng và tính khả thi của NOXH.

Những nút thắt trong phát triển nhà ở xã hội hiện nay

(KTVN 259+260) Chính phủ đặt mục tiêu xây dựng 1 triệu căn NOXH, với các gói hỗ trợ từ gói tín dụng 120.000 tỷ đồng (hiện được nâng lên 145.000 tỷ đồng) cho vay phát triển dự án và vay mua nhà cho người dân. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ giải ngân được khoảng 4.000 tỷ đồng từ gói tín dụng này, cho thấy các doanh nghiệp và người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh