Kỳ 4: Xây dựng trường để giữ dân, giữ bản 
PV: Thưa ông, từ góc độ quy hoạch và phát triển lãnh thổ, vì sao việc đầu tư xây dựng hệ thống trường nội trú tại các khu vực biên giới lại có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn hiện nay?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Như chúng ta thấy, tình hình thế giới và khu vực hiện nay hết sức phức tạp, khó lường. Đảng và Nhà nước luôn kiên định với đường lối phát triển kinh tế - xã hội đi cùng với bảo vệ chủ quyền quốc gia. Vì vậy, dưới góc độ quy hoạch và lãnh thổ, biên giới đất liền, hay vùng biển và hải đảo luôn là những địa bàn chiến lược, trọng điểm, phên dậu của Tổ quốc. Chính vì thế, đầu tư xây dựng hệ thống trường nội trú tại các khu vực biên giới đất liền lúc này không chỉ giải bài toán giáo dục, mà là giải pháp quy hoạch con người: nhằm thu hẹp khoảng cách vùng miền, tạo cơ hội bình đẳng, từ đó giữ dân, giữ bản và phát triển bền vững vùng biên, giữ vững an ninh và lãnh thổ quốc gia.
Cần thấy rằng, tại nhiều khu vực biên giới, địa hình chia cắt, dân cư phân tán, giao thông khó khăn và điều kiện tiếp cận các dịch vụ giáo dục còn hạn chế. Một ngôi trường nội trú được đầu tư đồng bộ sẽ giúp học sinh có môi trường học tập, ăn ở và rèn luyện ổn định, qua đó giảm nguy cơ bỏ học, từng bước nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.
Về lâu dài, chính những học sinh được đào tạo từ các mái trường này sẽ trở thành giáo viên, cán bộ, bác sĩ, kỹ sư và người lao động có trình độ, quay trở về phục vụ quê hương. Khi thế hệ trẻ có tri thức, nghề nghiệp và niềm tin vào tương lai, họ sẽ có thêm động lực gắn bó với bản làng, tham gia phát triển kinh tế và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Do đó, quy hoạch trường nội trú phải gắn với quy hoạch dân cư, giao thông, hạ tầng số, y tế và định hướng phát triển sinh kế. Nhà trường không chỉ là nơi dạy chữ mà còn phải trở thành hạt nhân kết nối cộng đồng, lan tỏa tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc. Mỗi ngôi trường nơi biên giới vì thế có thể được xem như một “cột mốc mềm” dựng xây bằng tri thức, văn hóa, niềm tin và lòng dân, góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.
PV: Trong quá trình nghiên cứu mô hình trường nội trú vùng biên, Ông xác định những đặc thù nào về địa hình, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa cần được ưu tiên giải quyết trong thiết kế?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Đó là ba thách thức cần được giải quyết đồng thời, bao gồm: sự chia cắt của địa hình miền núi; tính khắc nghiệt của khí hậu khu vực; và sự đa dạng về văn hóa bản địa của các dân tộc thiểu số. Vì vậy, thiết kế phải giải được bài toán hỗn hợp, bao gồm: thích ứng, an toàn, xanh, tiết kiệm năng lượng nhưng cần phải thấm đẫm bản sắc địa phương.
Trước hết, trường học phải được bố trí phù hợp với địa hình, hạn chế san gạt quy mô lớn và tránh những khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét, ngập úng. Việc tổ chức các khối lớp học, khu nội trú, nhà ăn và không gian sinh hoạt cần bảo đảm khoảng cách hợp lý, giao thông nội bộ thuận tiện và khả năng tiếp cận an toàn trong mùa mưa lũ. Công trình cũng cần có phương án cấp nước, thoát nước, cung cấp điện và ứng phó với tình huống thiên tai hoặc bị chia cắt.
Về khí hậu, mỗi vùng biên có điều kiện khác nhau nên không thể áp dụng một mẫu thiết kế cứng nhắc. Trường học ở vùng núi phía Bắc phải chống rét, hạn chế gió lùa; trong khi khu vực miền Trung, Tây Nguyên cần chú trọng chống nóng, mưa lớn và gió mạnh. Thiết kế cần tận dụng ánh sáng, thông gió tự nhiên, sử dụng vật liệu phù hợp và giảm chi phí năng lượng trong quá trình vận hành.

Các đại biểu tại điểm cầu địa phương trao đổi, góp ý nhằm hoàn thiện thiết kế mẫu Trường nội trú liên cấp vùng biên giới.
Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn đòi hỏi công trình phải bền chắc, dễ bảo trì và có khả năng sử dụng linh hoạt. Đặc biệt, kiến trúc cần kế thừa hình thức không gian, màu sắc và vật liệu đặc trưng của địa phương, nhưng tránh sao chép hình thức một cách máy móc.
Mỗi ngôi trường phải vừa hiện đại, an toàn, vừa gần gũi với đời sống đồng bào; để học sinh cảm nhận đây không chỉ là nơi học tập mà còn là “ngôi nhà chung”, nơi bản sắc văn hóa được gìn giữ và tinh thần đoàn kết cộng đồng được nuôi dưỡng.
PV: Nhiều người cho rằng trường học chỉ đơn thuần là nơi dạy và học. Theo Ông, một trường nội trú ở vùng biên giới cần được nhìn nhận như một công trình giáo dục hay như một thiết chế xã hội đa chức năng của cộng đồng?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Đây chắc chắn phải là một thiết chế xã hội thu nhỏ nhưng đa chức năng. Ngôi trường không chỉ là không gian lớp học mà còn là nơi gắn kết cộng đồng, trung tâm giao lưu văn hóa và điểm tựa an sinh vững chắc nơi biên cương. Vai trò ấy không chỉ dành cho học sinh mà còn hướng tới cộng đồng cư dân địa phương.
Ở vùng biên, dân cư thường phân tán, giao thông khó khăn và dịch vụ công còn hạn chế. Vì vậy, trường nội trú cần được quy hoạch như một hạt nhân phát triển cộng đồng. Ngoài chức năng dạy học, thư viện, nhà đa năng, sân thể thao và khu sinh hoạt văn hóa có thể được sử dụng linh hoạt để tổ chức các hoạt động chung, bảo tồn bản sắc và lan tỏa tri thức.
Nhà trường còn kết nối học sinh, giáo viên, phụ huynh, chính quyền và các lực lượng trên địa bàn. Khi được tổ chức hợp lý, trường nội trú sẽ trở thành “ngôi nhà chung”, vừa nuôi dưỡng thế hệ trẻ, vừa bồi đắp tinh thần đoàn kết, củng cố niềm tin và sức sống bền vững của cộng đồng nơi biên cương.
PV: Khi xây dựng các mẫu thiết kế trường nội trú, Ông đã làm gì để vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại, vừa tôn trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số tại địa phương?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Chúng tôi lựa chọn giải pháp “kiến trúc thích ứng”, kết hợp giữa hiện đại hóa công năng, tổ chức dây chuyền hoạt động và sử dụng vật liệu bền vững với việc kế thừa phong cách, hình thức nghệ thuật và không gian kiến trúc bản địa. Các giá trị văn hóa đặc trưng, cả vật thể và phi vật thể, cũng được nghiên cứu, chuyển hóa phù hợp vào thiết kế. Nhờ đó, công trình vừa tiện nghi, hiện đại, vừa quen thuộc và gần gũi với cộng đồng.

Một số mẫu thiết kế Trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới.
Tuy nhiên, gìn giữ bản sắc không có nghĩa là sao chép nguyên mẫu nhà truyền thống hoặc sử dụng họa tiết trang trí một cách hình thức. Điều quan trọng là hiểu được tinh thần của kiến trúc bản địa, từ cách ứng xử với địa hình, khí hậu, vật liệu đến cách tổ chức không gian sinh hoạt cộng đồng.
Mỗi vùng, mỗi dân tộc có những đặc trưng riêng nên thiết kế cần linh hoạt, tránh áp dụng một mẫu cứng nhắc. Các không gian như sân chung, nhà đa năng hay khu sinh hoạt văn hóa phải tạo điều kiện để học sinh thực hành dân ca, dân vũ, nghề thủ công và lễ hội truyền thống. Đó là hướng hiện đại hóa kiến trúc bản địa, giúp nhà trường trở thành nơi tiếp nối văn hóa và nuôi dưỡng niềm tự hào của học sinh về cội nguồn.
PV: Ông đánh giá như thế nào về vai trò của không gian kiến trúc trong việc tạo ra môi trường giao lưu, học tập và sinh hoạt chung cho học sinh thuộc nhiều dân tộc khác nhau?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Bản thân không gian kiến trúc luôn có ngôn ngữ riêng, tác động đến nhận thức, cảm xúc và hành vi của con người. Vì vậy, các không gian mở như nhà đa năng, thư viện, sân chung, khu sinh hoạt tập thể cần được tổ chức linh hoạt, gần gũi, nhằm từng bước xóa nhòa rào cản về ngôn ngữ và phong tục, thúc đẩy sự giao tiếp tự nhiên giữa học sinh các dân tộc.
Sự gắn kết không chỉ hình thành trong lớp học mà còn được bồi đắp qua những sinh hoạt đời thường như bữa cơm tập thể, giờ đọc sách, hoạt động thể thao, văn nghệ hay các chương trình trải nghiệm văn hóa. Khi học sinh thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và cùng tham gia hoạt động chung, các em sẽ dần thấu hiểu, tôn trọng sự khác biệt và học cách hỗ trợ lẫn nhau.
Do đó, thiết kế trường nội trú phải tạo được sự cân bằng giữa không gian riêng tư và không gian cộng đồng, giữa học tập và sinh hoạt, giữa văn hóa truyền thống và yêu cầu giáo dục hiện đại. Một không gian kiến trúc hợp lý không chỉ nâng cao chất lượng học tập mà còn trở thành môi trường nuôi dưỡng tình bạn, tinh thần sẻ chia và ý thức đoàn kết. Chính từ những tương tác bình dị ấy, khối đại đoàn kết được vun đắp bền vững dưới một mái trường chung.
PV: Có ý kiến cho rằng những ngôi trường nội trú vùng biên không chỉ đào tạo nguồn nhân lực mà còn góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Quan điểm của Ông về nhận định này như thế nào?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này. Đại đoàn kết không phải khái niệm trừu tượng, nó được bồi đắp từ những sinh hoạt đời thường dưới một mái trường chung. Khi những đứa trẻ thuộc nhiều dân tộc cùng ăn, cùng ở, cùng lớn lên, một sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt đã được xây dựng và hình thành trên chính nền móng đó.

Phối cảnh công trình trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền.
Trong môi trường nội trú, học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn học cách sẻ chia, tôn trọng sự khác biệt và hỗ trợ nhau trong cuộc sống. Qua từng bữa cơm, giờ học, hoạt động tập thể hay sinh hoạt văn hóa, các em có điều kiện hiểu thêm về ngôn ngữ, phong tục và truyền thống của những dân tộc khác. Sự thấu hiểu được hình thành từ tuổi học trò sẽ trở thành nền tảng của tinh thần đoàn kết khi các em trưởng thành.
Nhà trường cũng là không gian để bảo tồn và lan tỏa những giá trị văn hóa bản địa. Các làn điệu dân ca, điệu múa, lễ hội, nghề thủ công và tiếng nói của từng dân tộc có thể được giới thiệu, thực hành và trao truyền trong môi trường học đường. Điều đó không làm mờ đi bản sắc riêng mà tạo nên sự giao thoa văn hóa trong một cộng đồng thống nhất, đa dạng.
Khi trở về địa phương, chính những học sinh ấy sẽ trở thành cầu nối giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng; giữa truyền thống với hiện đại và giữa các dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn. Vì vậy, trường nội trú không chỉ đào tạo nguồn nhân lực mà còn âm thầm vun đắp niềm tin, tình cảm và ý thức trách nhiệm chung.
Mỗi mái trường nơi biên cương vì thế là một không gian nuôi dưỡng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần củng cố “thế trận lòng dân” và tạo nền tảng xã hội vững chắc để bảo vệ chủ quyền quốc gia.
PV: Trong các phương án thiết kế, đâu là những hạng mục được Ông đặc biệt quan tâm nhằm biến nhà trường thành một mái nhà chung cho học sinh nhiều dân tộc cùng sinh sống và trưởng thành?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Tôi đặc biệt ưu tiên việc tổ chức không gian kiến trúc cho ba hạng mục: khu nội trú ấm cúng, khu nhà ăn dành cho những bữa cơm tập thể và khu sinh hoạt văn hóa – cộng đồng. Đây chính là “trái tim” của ngôi trường, nơi chuyển hóa một công trình kiến trúc thành mái nhà chung thực sự.
Khu nội trú phải bảo đảm an toàn, tiện nghi, phù hợp với khí hậu địa phương nhưng vẫn tạo cảm giác gần gũi như gia đình. Bên cạnh phòng ở, cần có những không gian chung để học sinh trò chuyện, tự học, hỗ trợ nhau và hình thành nếp sống tập thể.
Khu nhà ăn không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng mà còn là nơi các em cùng chia sẻ bữa cơm, học cách quan tâm và tôn trọng sự khác biệt trong tập quán sinh hoạt. Trong khi đó, khu sinh hoạt văn hóa – cộng đồng cần được thiết kế linh hoạt để tổ chức hoạt động tập thể, dân ca, dân vũ, lễ hội và trải nghiệm nghề thủ công truyền thống.
Khi ba không gian này được kết nối hài hòa, nhà trường sẽ không chỉ là nơi học tập mà còn là môi trường nuôi dưỡng tình bạn, bản sắc văn hóa và tinh thần đoàn kết giữa học sinh các dân tộc.
PV: Từ thực tiễn khảo sát tại các địa phương biên giới, Ông nhận thấy đồng bào và chính quyền cơ sở kỳ vọng điều gì nhất ở các mô hình trường nội trú đang được nghiên cứu, đề xuất?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Kỳ vọng lớn nhất là một ngôi trường kiên cố, an toàn trước thiên tai, điều kiện ăn ở học tập đầy đủ để con em của đồng bào các dân tộc không còn phải bỏ học, thất học…. Xa hơn, chính quyền kỳ vọng đây sẽ là cái nôi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo đòn bẩy thoát nghèo bền vững cho địa phương. Đồng thời, có thể sử dụng cơ sở vật chất của ngôi trường theo hướng lưỡng dụng, nhằm gánh vác và chia sẻ với cộng đồng khi có thiên tai, dịch bệnh…
PV: Theo Ông, việc đầu tư trường nội trú có thể tạo ra những tác động lâu dài như thế nào đối với mục tiêu phát triển bền vững, giảm nghèo, giữ dân và giữ gìn các vùng biên cương của Tổ quốc?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Giáo dục vốn luôn được coi là gốc rễ của phát triển. Trường nội trú sẽ giúp giảm tỷ lệ bỏ học, nâng cao dân trí và tăng tính đoàn kết, hạn chế di cư tự do… Muốn giữ vững biên cương, trước hết phải giữ được dân, muốn giữ được dân phải chăm lo tốt cho thế hệ trẻ và cộng đồng cư dân – đó chính là tác động mang tính chiến lược quốc gia.
Tác động của một ngôi trường nội trú không chỉ được đo bằng số phòng học hay số học sinh được tiếp nhận, mà phải được nhìn nhận qua sự chuyển biến lâu dài của cả cộng đồng. Khi trẻ em vùng biên được học tập trong môi trường đầy đủ, an toàn, các em sẽ có điều kiện tiếp cận tri thức, rèn luyện kỹ năng và mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Đây là nền tảng để hình thành nguồn nhân lực tại chỗ, từng bước phá vỡ vòng luẩn quẩn của nghèo đói và sự thiếu hụt cơ hội phát triển.
Từ những mái trường ấy, nhiều học sinh có thể trưởng thành, trở thành giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, cán bộ cơ sở hoặc người lao động có trình độ rồi trở về đóng góp cho quê hương. Khi người trẻ có tri thức, việc làm và niềm tin vào tương lai trên chính mảnh đất mình sinh ra, họ sẽ có thêm động lực ở lại, xây dựng gia đình và phát triển sinh kế bền vững.


Hồ sơ thiết kế mẫu bao gồm nghiên cứu cơ bản về module các phòng học, nội trú điển hình; tài liệu hướng dẫn, giải pháp kỹ thuật...
Trường nội trú còn là không gian chung để học sinh các dân tộc cùng học tập, sinh hoạt, thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt. Qua đó, tinh thần đoàn kết được bồi đắp, bản sắc văn hóa được gìn giữ và niềm tin của người dân đối với chính sách phát triển vùng biên được củng cố.
Vì vậy, đầu tư cho trường nội trú chính là đầu tư cho “hạ tầng con người”, tạo nền tảng để giảm nghèo, giữ dân, giữ bản và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Mỗi ngôi trường sẽ trở thành một “cột mốc mềm” bằng tri thức và lòng dân, góp phần bảo vệ bền vững biên cương Tổ quốc.
PV: Nếu gửi gắm một thông điệp tới các nhà hoạch định chính sách và toàn xã hội về câu chuyện xây dựng trường học ở vùng biên giới, Ông muốn nhấn mạnh điều gì?
TS.KTS Hồ Chí Quang: Mỗi ngôi trường nội trú được dựng lên nơi biên cương là thêm một điểm tựa cho trẻ em, thêm một sợi dây gắn kết cộng đồng và thêm một viên gạch vững chắc bồi đắp cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ ngay nơi phên dậu của Tổ quốc. Đầu tư cho trường vùng biên chính là đầu tư cho tương lai và an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, việc đầu tư không nên chỉ dừng ở xây dựng cơ sở vật chất mà cần được thực hiện bằng một tầm nhìn lâu dài, đồng bộ từ quy hoạch, thiết kế đến tổ chức giáo dục và vận hành. Mỗi ngôi trường phải phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu và văn hóa bản địa; đồng thời bảo đảm đầy đủ không gian học tập, nội trú, sinh hoạt, rèn luyện thể chất và giao lưu cộng đồng. Công trình cần bền vững về kỹ thuật, tiết kiệm trong vận hành và có khả năng thích ứng trước thiên tai.
Cùng với đó, chính sách phải hướng đến chăm lo toàn diện cho học sinh và đội ngũ giáo viên. Muốn trường học thực sự trở thành “ngôi nhà thứ hai”, cần bảo đảm điều kiện ăn, ở, y tế, nước sạch, an toàn và môi trường văn hóa lành mạnh; đồng thời có chính sách phù hợp để thu hút, giữ chân giáo viên gắn bó lâu dài với vùng biên.
Điều quan trọng hơn cả là phải đặt người dân và cộng đồng địa phương vào vị trí chủ thể. Khi đồng bào được tham gia, được lắng nghe và cùng gìn giữ ngôi trường, công trình ấy sẽ không còn là một dự án đơn lẻ mà trở thành tài sản chung của bản làng.
Tôi cho rằng, mỗi trường nội trú vùng biên cần được xây dựng như một “cột mốc mềm” bằng tri thức, văn hóa, niềm tin và lòng dân. Đó là nơi nuôi dưỡng những thế hệ có tri thức, bản lĩnh và khát vọng; góp phần giữ dân, giữ bản, củng cố đoàn kết cộng đồng và bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc.
KỲ 4: XÂY TRƯỜNG ĐỂ GIỮ DÂN, GIỮ BẢN