11:26 26/08/2026 GMT+7

PV: Theo ông, mối quan hệ giữa kiến trúc và văn hóa thể hiện rõ nhất ở đâu? Khi nào một công trình vượt ra khỏi chức năng thông thường để trở thành một tác phẩm kiến trúc?

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn: Có những công trình chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng cụ thể, rồi dần dần bị thay thế hoặc lãng quên. Nhưng cũng có những công trình vượt khỏi chức năng ban đầu, trở thành hình ảnh đại diện cho một thành phố, một vùng đất, thậm chí một quốc gia. Khi đó, kiến trúc đã trở thành một tác phẩm văn hóa. Mối quan hệ giữa kiến trúc với văn hóa là ở chỗ đó.

Có thể bắt đầu từ câu chuyện rất bình thường. Người Hà Nội đi xa thành phố nhiều năm, số đông khi nhớ về Hà Nội, họ thường nhớ gì? Họ nhớ về ký ức, về hoài niệm. Đó là Hồ Gươm, phố cổ, những con phố cũ…, những hàng cây, những mái nhà, vỉa hè, những góc phố và những không gian mà họ từng sống, từng đi qua. Không phải vì những khu mới không đáng để nhớ mà bởi chúng chưa có đủ thời gian và đời sống văn hóa tích tụ để trở thành ký ức đô thị.

Du khách nước ngoài đến Hà Nội cũng vậy. Họ không đến để tìm một thành phố hiện đại giống rất nhiều thành phố khác trên thế giới. Họ tìm Hà Nội và thấy nhiều hơn ở khu vực phố cổ, hồ Hoàn Kiếm và khu phố cũ. Năm 2025, Hà Nội đón trên 33,7 triệu lượt khách, trong đó hơn 7,82 triệu khách quốc tế. Điều đáng suy nghĩ là sức hấp dẫn của Hà Nội đối với du khách phần lớn không nằm ở một công trình đơn lẻ, mà ở không gian đô thị trong đó quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan, văn hóa lịch sử và đời sống đã hòa quện vào nhau.

Cái ở lại trong ký ức con người về một thành phố vì thế không phải là danh mục những công trình đã được xây dựng, mà là những không gian trong đó kiến trúc và văn hóa đã trở thành một chỉnh thể.

Có những trường hợp công trình riêng lẻ có khả năng tạo ra sức hút đặc biệt. Sydney Opera House là một ví dụ. Người ta đến Sydney hầu như đều muốn tìm đến Nhà hát Opera, đứng trước những cánh buồm trắng đặc biệt ấy để nhìn và chụp một bức ảnh. Nhà hát hiện đón hơn 10 triệu lượt người mỗi năm. Sagrada Família ở Barcelona năm 2025 đón gần 4,9 triệu lượt khách. Cité du Vin ở Bordeaux năm 2024 đón hơn 415.000 khách từ 180 quốc gia. Ở Chicago, Cloud Gate công trình "Hạt đậu" không phải một tòa nhà mà là một tác phẩm nghệ thuật công cộng, nhưng đã trở thành một hình ảnh đặc trưng của thành phố. Công trình rất nhỏ, không phô trương, cái độc đáo của nó là hình thể gương cầu hình hạt đậu đã ôm hết cả các công trình cao tầng xung quanh vào trong nó.

Những người đến đó không chỉ để xem một công trình. Họ muốn được hiện diện ở đó, muốn trải nghiệm, checkin và sau đó mang hình ảnh ấy về trong ký ức của mình. Đó chính là công trình kiến trúc vượt khỏi chức năng ban đầu để trở thành một điểm nhấn văn hóa.

PV: Một công trình kiến trúc khi trở thành điểm nhấn văn hóa có thể đem lại những giá trị gì cho địa phương?

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn: Giá trị đầu tiên dễ nhận thấy là khả năng thu hút đông người và du khách. Nhưng tôi cho rằng tác động của nó rộng hơn rất nhiều so với số vé tham quan bán được.

Khi một công trình có sức hấp dẫn, dòng người kéo đến sẽ tạo ra hàng loạt hoạt động xung quanh nó như lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm, dịch vụ, giải trí, các hoạt động văn hóa và kinh tế ban đêm. Một tác phẩm kiến trúc độc đáo sẽ trở thành hạt nhân tạo ra cả một hệ sinh thái kinh tế văn hóa. Nếu biết làm thì có thể biến một vùng đất khô cằn nghèo nàn thành điểm du lịch hấp dẫn, làm thay đổi kinh tế, xã hội cho cả vùng.

Nhưng lợi ích quan trọng hơn của kiến trúc không chỉ nằm ở doanh thu du lịch. Một công trình đẹp, có chất lượng và có bản sắc còn có khả năng nâng cao giá trị thẩm mỹ cho xã hội.

Người ta không chỉ học cái đẹp từ sách vở. Họ học bằng chính môi trường mà họ sống trong đó. Một đứa trẻ lớn lên giữa những công trình tốt, có quảng trường đẹp, những con phố có tỷ lệ hài hòa giữa con người với nhà cửa, cây xanh, nghệ thuật công cộng và những không gian văn hóa hấp dẫn sẽ hình thành một cảm nhận khác về môi trường sống.

Kiến trúc vì thế có thể góp phần hình thành tình cảm của con người đối với nơi chốn. Người dân có thể tự hào nói đây là công trình ở quê hương tôi. Từ yêu thích đến tự hào, từ tự hào đến ý thức giữ gìn, đó là một quá trình hình thành văn hóa cộng đồng mà kiến trúc có thể góp phần tạo nên.

Với thanh thiếu niên, tác động ấy càng có ý nghĩa. Một địa phương có những không gian đẹp, những công trình có giá trị, những nơi mà người trẻ muốn đến, muốn chụp ảnh, muốn giới thiệu với bạn bè sẽ góp phần tạo nên tình yêu quê hương bằng một cách rất tự nhiên, không cần những lời giáo huấn lớn lao.

Vì vậy, tôi cho rằng một tác phẩm kiến trúc có chất lượng có thể tạo ra một chuỗi giá trị rất dài từ thẩm mỹ đến văn hóa, từ văn hóa đến du lịch, từ du lịch đến kinh tế, và từ đó quay trở lại củng cố niềm tự hào và bản sắc của cộng đồng.

PV: Theo ông, mỗi địa phương có thể tạo ra một điểm nhấn văn hóa bằng kiến trúc như thế nào? Có nhất thiết phải là những công trình lớn và đắt tiền?

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn: Tôi nghĩ hoàn toàn không nhất thiết. Và đây cũng là điều cần thay đổi trong cách suy nghĩ về kiến trúc biểu tượng.

Một địa phương muốn có điểm nhấn văn hóa không nhất thiết phải xây một công trình thật lớn, thật đắt tiền hoặc có hình thức lạ lẫm. Quan trọng là công trình phải được sinh ra từ chính nơi đó, là lịch sử, văn hóa, cảnh quan, khí hậu, vật liệu, nghề truyền thống và đời sống của cộng đồng. Không thể lấy hình thức của Sydney, Barcelona hay Chicago để áp đặt vào một địa phương Việt Nam rồi gọi đó là bản sắc.

Chùa Bái Đính (Ninh Bình) xây dựng theo kiến trúc thời nhà Lý.

Mỗi địa phương đều có những giá trị riêng, nó có thể trở thành nguồn cảm hứng cho người thiết kế. Một thành phố ven biển, ven sông có thể tìm thấy điểm nhấn từ văn hóa sông nước. Có thể bắt đầu từ đời sống của người dân vạn chài hay từ những công cụ của họ. Một ngôi làng có nghề thủ công lâu đời có thể tạo ra một công trình văn hóa gắn với chính nghề ấy, muốn trở thành điểm đến không thể chỉ có sản phẩm để bán. Người ta phải có chỗ để nhìn, để hiểu và để trải nghiệm văn hóa của làng. Một làng quê có thể có tạo lập một không gian văn hóa, một công trình cộng đồng, hay một cụm tượng điêu khắc, phù điêu có đủ sức trở thành điểm đến, để nhớ, để lắng đọng.

Nhìn vào các địa phương hiện nay, chúng ta đã có những dấu hiệu đáng khích lệ. Đà Nẵng có Cầu Rồng, Cầu Vàng và nhiều công trình đã góp phần tạo nên hình ảnh mới của thành phố. Quảng Ninh có Bảo tàng Quảng Ninh một công trình kiến trúc đương đại đã trở thành điểm đến rõ rệt; năm 2025 bảo tàng đã đón khoảng một triệu khách. Toàn tỉnh Quảng Ninh trong năm đó đón hơn 21 triệu lượt khách.

Khánh Hòa năm 2025 đón khoảng 16,4 triệu lượt khách, trong đó 5,5 triệu khách quốc tế. TP Hồ Chí Minh đón khoảng 8,5 triệu khách quốc tế và 45 triệu khách nội địa. Cần Thơ cũng đang khai thác mạnh những giá trị văn hóa và cảnh quan sông nước.

Những con số ấy cho thấy nguồn khách của các địa phương đã rất lớn. Nhưng tôi nghĩ cần đặt một câu hỏi khác: trong số những công trình chúng ta đang có, bao nhiêu công trình thực sự khiến du khách phải tìm đến chỉ vì chính giá trị kiến trúc và văn hóa của nó?

Đây là một khoảng trống mà kiến trúc Việt Nam cần phải làm để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong đó có yếu tố văn hóa.

PV: Vì sao chúng ta xây dựng rất nhiều công trình nhưng số công trình thực sự trở thành tác phẩm kiến trúc, có sức lan tỏa văn hóa, lại chưa nhiều?

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn: Có hai nguyên nhân đáng chú ý.

Thứ nhất là người có quyền quyết định phương án kiến trúc đóng vai trò quan trọng nhất. Một công trình có thể tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, nhưng quyết định cuối cùng đôi khi lại phụ thuộc vào những người nhìn công trình chủ yếu từ góc độ hiệu quả đầu tư, quản lý hoặc công năng. Trong khi kiến trúc còn có những giá trị khác như thẩm mỹ, không gian, đô thị, văn hóa và ký ức.

Một công trình kiến trúc không giống một sản phẩm có thể thay đổi dễ dàng. Nếu một quyết định đầu tư không tốt khó có thể sửa bằng một dự án khác, một quyết định kiến trúc kém có thể để lại hậu quả cho bộ mặt của đô thị trong nhiều thập kỷ.

Thứ hai là sự thiếu vắng một cơ chế phản biện xã hội đủ mạnh. Một công trình quan trọng không chỉ được nhìn nhận bởi chủ đầu tư, kiến trúc sư và cơ quan phê duyệt. Nó cần được giới chuyên môn, giới nghiên cứu, mỹ thuật, truyền thông và công chúng đặt câu hỏi, tranh luận và phản biện.

Phản biện không phải để cản trở xây dựng. Phản biện là để trả lời một câu hỏi rất đơn giản, như công trình này sẽ để lại gì cho nơi nó được xây dựng và cho các thế hệ sau? Một ví dụ ở Hà nội, hầu hết các công trình công sở xây dựng thời Pháp thuộc đều phải chịu sự giám sát và phản biện khá gay gắt từ giới chuyên môn và báo chí cả trong nước và ngay tại chính quốc. Ví dụ như công trình Đại học Đông Dương ở trên đường Lê thánh Tông Hà nội đã phải đập đi sửa lại nhiều lần mới ra công trình như hiện tại. Tài liệu lưu trữ về hồ sơ thiết kế và báo chí viết hiện nay cơ quan lưu trữ vẫn giữ khá đầy đủ.

Thiếu phản biện, kiến trúc rất dễ trở thành kết quả của một quyết định hành chính hoặc một ý thích nhất thời. Nhưng một công trình có thể tồn tại lâu hơn rất nhiều so với nhiệm kỳ của người quyết định nó.

Muốn có những tác phẩm kiến trúc thực sự có giá trị văn hóa, chúng ta phải tạo ra một môi trường mà ở đó cơ hội sáng tạo bằng năng lực chuyên môn, tính cạnh tranh phải được đặt trong một môi trường quy định pháp luật về thi cử phải được thực hiện nghiêm túc; việc phản biện được công khai, minh bạch.

PV: Nếu coi kiến trúc là một điểm nhấn văn hóa, theo ông điều quan trọng nhất mà mỗi địa phương cần hướng tới là gì?

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn: Tôi nghĩ mỗi địa phương cần coi kiến trúc như hạ tầng văn hóa. Chúng ta thường nói đến hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Nhưng một địa phương muốn phát triển lâu dài không chỉ cần đường sá, sân bay, khách sạn và trung tâm thương mại. Địa phương ấy cũng cần những nơi mà người dân tự hào, du khách muốn tìm đến và các thế hệ sau vẫn muốn nhớ về.

Nhà cổ của người dân đồng bằng Bắc bộ Việt Nam thế kỷ 19. Ảnh: ĐỨC TOÀN

Một tác phẩm kiến trúc có thể trở thành điểm tựa cho quá trình ấy. Từ một công trình có thể hình thành cả một chuỗi giá trị.  Kiến trúc tạo ra không gian; không gian thu hút con người; con người tạo ra hoạt động; hoạt động tạo ra ký ức; ký ức tạo ra văn hóa; văn hóa tạo ra bản sắc; bản sắc tạo ra sức hút du lịch và cuối cùng có thể tạo ra giá trị kinh tế cho địa phương.

Đó cũng là lý do tôi cho rằng mỗi địa phương nên tự đặt cho mình một câu hỏi nếu vài chục năm nữa người dân đi xa quê hương và nhớ về nơi mình đã sống, họ sẽ nhớ về cái gì, về công trình nào? Nếu một người nước ngoài đến đây lần đầu, họ nhìn thấy hình ảnh nào để nhận ra nơi này mà không phải một nơi nào khác?

Câu trả lời không phải là một cái gì phải to tát. Nó phải là một tác phẩm kiến trúc có chất lượng, có sắc thái riêng và có khả năng đi vào ký ức, đời sống con người. Chỉ khi làm được điều đó, công trình sẽ vượt khỏi chức năng ban đầu của nó. Nó trở thành một thành phần của văn hóa địa phương.

Đó mới là mục tiêu cao nhất mà kiến trúc có thể đem lại cho cộng đồng, cho một vùng đất, nó không chỉ tạo ra một công trình để sử dụng hôm nay, mà tạo ra một giá trị văn hóa để các thế hệ còn nhớ đến.

PV: Thưa ông, cần làm gì để Nghị quyết số 80-NQ/TW và Quyết định số 729/QĐ-BXD thực sự đi vào cuộc sống, trở thành trách nhiệm chung của cơ quan quản lý, chủ đầu tư, kiến trúc sư và cộng đồng?

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn: Theo tôi, để các chủ trương về kiến trúc và văn hóa thực sự đi vào cuộc sống, trước hết cần chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động. Văn hóa phải được xem là nội dung cốt lõi ngay từ khi lập quy hoạch, xây dựng chính sách, lựa chọn phương án thiết kế đến đầu tư, quản lý và vận hành công trình; không thể chỉ được bổ sung ở khâu cuối bằng một vài hình thức trang trí mang tính biểu tượng.

Mỗi địa phương cần nhận diện đầy đủ các giá trị đặc trưng của mình, từ lịch sử, cảnh quan, khí hậu, di sản đến phong tục, tập quán và phương thức tổ chức đời sống cộng đồng. Trên cơ sở đó, xây dựng quy chế quản lý kiến trúc và những tiêu chí cụ thể để định hướng phát triển, bảo đảm công trình mới vừa đáp ứng nhu cầu hiện đại, vừa tôn trọng ký ức và bản sắc của vùng đất.

Cùng với đó, cần nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, tăng cường kỷ luật trong lập và thực hiện quy hoạch, hạn chế việc điều chỉnh tùy tiện vì lợi ích trước mắt. Đối với các công trình công cộng, công trình có vị trí quan trọng hoặc tác động lớn đến cảnh quan, cần tổ chức thi tuyển phương án kiến trúc công khai, minh bạch, lựa chọn được những thiết kế có giá trị lâu dài.

Kiến trúc sư cũng phải nghiên cứu sâu về văn hóa bản địa, tránh sao chép máy móc hình thức truyền thống hoặc chạy theo phong cách ngoại lai. Chủ đầu tư cần nhìn nhận giá trị văn hóa như một nguồn lực tạo nên thương hiệu và sức sống bền vững cho dự án.

Đặc biệt, cộng đồng phải được tham gia từ sớm vào quá trình quy hoạch và xây dựng. Khi Nhà nước, giới nghề nghiệp, doanh nghiệp và người dân cùng chia sẻ trách nhiệm, các chủ trương mới có thể chuyển hóa thành những không gian sống nhân văn, giàu bản sắc và thực sự phục vụ con người.

PV: Xin cảm ơn ông!

TỪ KHÓA #kiến trúc #NƠI KÝ ỨC DÂN TỘC HIỆN HỮU #NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN #văn hoá việt nam
Tin cùng chuyên mục