“Nơi chốn” trong tổ chức không gian đô thị có bản sắc

(Vietnamarchi) - Những năm 70 của thế kỷ XX, những tư tưởng triết học về hiện tượng luận của Heidegger, Merleau Ponty, Paul Ricoeur… đã thổi một luồng gió mới vào việc nghiên cứu lý thuyết kiến trúc và đô thị học.
11:58, 24/11/2023

000832baoxaydung_1

Khái niệm “Nơi chốn” hàm chứa một ý nghĩa vượt lên trên một địa điểm bình thường. Nó không những được thể hiện qua đặc trưng của những yếu tố biểu hình trong không gian mà còn được thể hiện bởi tính chất của không gian đó. Nơi chốn thể hiện qua các yếu tố đặc trưng sau:

– Yếu tố nơi chốn phản ánh mối liên hệ giữa các yếu tố có trong môi trường tự nhiên và môi trường xây dựng tạo thành khung cảnh đô thị.

– Yếu tố nơi chốn phản ánh quá trình hình thành – phát triển của đô thị.

– Yếu tố nơi chốn phản ánh mối liên hệ giữa địa điểm với con người, hình thành nên lối sống đặc trưng của đô thị.

Vai trò của yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị có bản sắc: Yếu tố nơi chốn được hình thành dựa trên mối liên hệ giữa các yếu tố vật chất của môi trường tự nhiên và môi trường xây dựng tạo nên một khung cảnh đô thị chịu ảnh hưởng từ những nét đặc trưng tự nhiên như địa hình, mặt nước, bầu trời hay nhân tạo như kiến trúc, đô thị gắn liền với địa điểm. Và đồng thời, yếu tố nơi chốn cũng liên kết với những yếu tố tinh thần như lịch sử, lối sống… tạo nên những nét đặc trưng trong văn hoá đô thị.

Với vai trò vừa là môi trường vừa là kết quả của các mối liên hệ, và giải quyết tốt các mối liên hệ đó, nơi chốn đã trở thành yếu tố quan trọng nhất tạo dựng nên một đô thị có bản sắc.

Nhận diện yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị: Con người chỉ nhận diện rõ được yếu tố nơi chốn khi họ cảm thấy thực sự hòa đồng với nơi mình sống thông qua việc họ hiểu và góp phần xây dựng. Nhận diện được tinh thần nơi chốn hay bản sắc riêng là cơ sở cho việc duy trì sự liên tục của tiến trình phát triển. Việc nhận diện không gian xã hội của nơi chốn cần quan tâm đến những yếu tố văn hóa – lịch sử (cultural – historical elements) được nối kết vào tiến trình phát triển hiện tại.

Việc khai thác yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị có bản sắc phải được nhìn nhận dưới góc độ không gian vật chất (gồm môi trường tự nhiên và môi trường xây dựng) và gian xã hội của đô thị. Trong khuôn khổ của bài báo, việc phân tích khai thác yếu tố nơi chốn chỉ xét đến môi trường tự nhiên: yếu tố địa hình, mặt nước và bầu trời.

1. Khai thác các yếu tố địa hình

Duy trì các đặc điểm có giá trị của điều kiện địa hình: Trong đô thị, một khoảng không gian tự nhiên nào đó được duy trì ở đặc tính nguyên thủy sẽ giúp người dân đô thị nhìn thấy được quá trình phát triển và mối liên hệ đến lịch sử của đô thị. Tuy nhiên, sự phát triển đôi khi đòi hỏi chúng phải được khai thác chứ không phải như một khu bảo tồn thiên nhiên bên trong đô thị. Vì vậy, các giá trị được nhìn nhận là những đặc trưng địa hình nổi trội.

000833baoxaydung_2

Tùy theo thủ pháp thiết kế, môi trường xây dựng có thể hài hòa hay tương phản với những yếu tố địa hình nổi trội này nhưng việc duy trì cảm nhận về điều kiện tự nhiên là điều cần thiết. Việc phá đi các yếu tố hiện hữu đặc thù sẽ làm mất đi sự liên kết cũng như cấu trúc tự nhiên vốn có của khu đất.

Bảo vệ tầm nhìn đến các yếu tố địa hình đóng vai trò cột mốc trong khung cảnh đô thị: Các yếu tố địa hình đột xuất như đồi, núi đứng độc lập luôn tạo ra quanh mình một vùng ảnh hưởng rộng lớn và thường được dựng làm cột mốc để xây dựng đô thị. Cùng với thời gian, sự phát triển thiếu kiểm soát đã làm mất đi vai trò quan trọng trong bố cục đô thị của chúng. Vì vậy, tổ chức các hành lang bảo vệ tầm nhìn đến cột mốc tự nhiên này sẽ gia tăng khả năng định hướng và tạo điều kiện cho đô thị có thể phát triển hài hòa theo một cấu trúc chung.

Gia tăng khả năng tiếp cận của người dân đến các yếu tố địa hình nổi trội của đô thị: Những yếu tố địa hình nổi trội cần được kết nối với đô thị bằng một hệ thống giao thông tạo điều kiện tiếp cận một cách dễ dàng. Và ngược lại, những tuyến cây xanh, các không gian mở góp phần đưa môi trường tự nhiên hướng về đô thị. Qua đó các yếu tố địa hình được khai thác, nâng cao giá trị trong khung cảnh chung của đô thị được thay vì chỉ là một yếu tố tự nhiên tách rời.

2. Khai thác các yếu tố mặt nước

Với chiều dài 3.260km bờ biển và nhiều sông hồ, yếu tố mặt nước của Việt Nam hình thành nên bản sắc đô thị song yếu tố này nhiều khi đã không được chú ý và khai thác. Để tạo lập hình ảnh riêng của đô thị, cần chú ý:

000833baoxaydung_3

– Duy trì các giá trị tự nhiên của mặt nước: Do đặc tính mềm mại của nước, ranh giới của nó với đất liền như bờ sông, bờ biển… tạo nên những nét cong mềm mại tương phản với môi trường xây dựng. Khu vực này cũng là nơi tập trung nhiều loài động thực vật phong phú mang giá trị cảnh quan và sinh thái to lớn. Đặc tính tự nhiên này nên được duy trì và khai thác bằng các giải pháp thích hợp, hạn chế xây dựng những đường kè bê tông kiên cố, không chỉ vì hiệu quả kinh tế mà còn phù hợp với xu hướng phát triển bền vững hiện nay.

– Khai thác đặc tính chia cắt của dòng nước: Dòng sông và các nhánh của nó thường chia cắt đô thị thành nhiều phần, vì vậy, những giải pháp như đào hồ, nắn dòng, làm cầu… là những hoạt động cần thiết để tạo nên sự kết nối. Những cây cầu liên kết giữa hai bờ nước không chỉ tạo cho đô thị một cấu trúc hoàn chỉnh mà còn cung cấp những điểm nhìn mới cho việc quan sát đô thị. Khi không có sự liên kết giữa hai bờ sông, dòng nước trở thành ranh giới của đô thị, nhưng khi cây cầu được xây dựng, dòng sông sẽ trở thành nội thất đô thị.

– Khai thác đặc tính phản chiếu của mặt nước: Đặc tính phản chiếu của mặt nước của sông, hồ, vịnh… tạo cho đô thị một không gian ảo bằng hiệu ứng nhân đôi. Nhờ vậy, không gian đô thị trở nên rộng hơn, bớt đi cảm giác chật chội bởi mật độ xây dựng dày đặc, hơn nữa, hình ảnh phản chiếu trong nước luôn “mềm” hơn so với công trình xây dựng. Và khi thành phố lên đèn hình ảnh này càng trở nên lung linh hơn góp phần nhấn mạnh không khí tập trung sôi động như một tính chất đặc trưng của đô thị.

3. Khai thác yếu tố bầu trời

 

– Khôi phục lại mối liên hệ của đô thị với bầu trời: Mối quan hệ giữa con người với bầu trời ở các đô thị của Việt Nam sẽ dần thay đổi trong tương lai khi bầu trời ngày càng bị thu hẹp giữa những ngôi nhà ngày càng cao hơn. Thêm vào đó, trong nhịp sống hối hả của đô thị con người dễ dàng bỏ qua những cảm nhận về bầu trời nơi họ sống. Vì vậy, chức năng phông nền cho toàn bộ cuộc sống của đô thị với bầu trời cần được nhìn nhận trước bằng cách tạo ra các khoảng trống trong đô thị thông qua việc quy định mật độ xây dựng theo khu vực, bề rộng đường phố, các khoảng nhô ra của công trình và những khoảng không gian mở lớn tại vị trí các nút giao thông, nơi tiếp giáp với các yếu tố tự nhiên…

000834baoxaydung_4

– Sử dụng các hình thức và vật liệu kiến trúc phù hợp phản ánh sự biến đổi của bầu trời: Ánh sáng không chỉ giúp kiến trúc biểu hiện hình khối của mình mà còn là vật liệu trong kiến trúc bởi khả năng biến đổi theo giờ, theo mùa. Vì vậy, những vật liệu có tính phản quang như kính, tấm ốp kim loại…; các chi tiết kiến trúc như lam che nắng, mái đua, hàng hiên… và các khoảng mở như sân trong không chỉ là những giải pháp phù hợp với khí hậu nhiệt đới mà còn gia tăng cảm nhận của con người về sự biến đổi của bầu trời nơi họ sống.

Phòng ngừa cháy nổ trong công trình lắp đặt trạm sạc xe điện: Điều kiện hiện tại, rủi ro và các giải pháp tích hợp

(KTVN 262) Thực trạng công tác phòng ngừa cháy trong lắp đặt trạm sạc xe điện phản ánh một nghịch lý. Một mặt, hạ tầng sạc EV đã mở rộng nhanh chóng và ngày càng được công nhận là một thành phần thiết yếu của giao thông ít phát thải carbon, hệ thống năng lượng thông minh và các chiến lược phát triển bền vững đô thị [1, 22]. Mặt khác, sự phát triển thực tế của công tác phòng ngừa cháy không phải lúc nào cũng theo kịp tốc độ triển khai hạ tầng, đặc biệt liên quan đến sạc công suất cao, hành vi cháy liên quan đến pin, giám sát thông minh và khả năng chống chịu mạng - vật lý. Kết quả, ngày nay nhiều cơ sở sạc đang vận hành trong một môi trường an toàn mang tính chuyển tiếp: chúng có thể đáp ứng các yêu cầu thiết kế điện truyền thống, nhưng vẫn thiếu kiến trúc phòng ngừa cháy tích hợp cần thiết cho các rủi ro vận hành mới.

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

(KTVN 262) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng cấp bách, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí metal của ngành giao thông vận tải, định hướng phát triển hệ thống giao thông vận tải xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050.Quá trình đô thị hóa nhanh, dân số trẻ, tăng trưởng kinh tế ổn định và nhu cầu giảm ô nhiễm không khí là những động lực chính thúc đẩy chuyển đổi sang xe điện. Không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia trong khu vực đã cam kết giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy kinh tế xanh, tạo nền tảng chính sách thuận lợi cho phát triển phương tiện giao thông điện.

Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

(KTVN 262) Trước thực trạng phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, khó lường, phương tiện giao thông điện (EV, e-bike, e-motorbike) xuất hiện như một lựa chọn hàng đầu cho mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Nhưng cùng với những thế mạnh của chúng, các vụ cháy đã xảy ra trên thế giới và Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp bách về đảm bảo an toàn cháy cho các công trình, đặc biệt tại các khu vực không gian kín như tầng hầm nhà cao tầng hay khu dân cư. Để giải quyết những rủi ro này, cần có một cách tiếp cận toàn diện bao gồm các biện pháp kỹ thuật và quản lý, từ đánh giá rủi ro khác biệt đến các cơ chế an toàn xuyên suốt. Tham luận đánh giá thực trạng hạ tầng và khoảng trống pháp lý tại Việt Nam, phân tích các định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy (PCCC) cần thiết để ứng phó hiệu quả với những rủi ro cháy nổ liên quan đến khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe trong các tầng hầm nhà chung cư và khu dân cư tại Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và đặc thù trong nước, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách về kỹ thuật, quản lý và vận hành nhằm đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

(KTVN 262) Sự chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe chạy nguyên liệu hóa thạch sang xe chạy điện là xu thế tất yếu của giao thông xanh, quá trình chuyển đổi này hiện đang diễn ra nhanh chóng, tạo ra những thách thức không nhỏ đối với hệ thống hạ tầng đô thị, trong đó đặc biệt là thách thức đối với hạ tầng bến, bãi đỗ xe tại các đô thị ở nước ta. Một ví dụ điển hình là vấn đề “Hạ tầng xe điện và chung cư, nhà ở cao tầng” đang trở thành một trong những điểm nóng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ hạ tầng kỹ thuật đô thị, tập trung vào các vấn đề về quy hoạch không gian, các vấn đề về kỹ thuật đối với bến, bãi đỗ xe, trạm sạc để đáp ứng nhu cầu đặt ra của quá trình chuyển đổi phương tiện giao thông sang xe điện.

Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ cần cách tiếp cận đồng bộ

(KTVN 262) Sự gia tăng của xe điện trong các đô thị lớn đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích ứng của hạ tầng kỹ thuật và hệ thống quản lý. Điều này tạo ra một khoảng trống mà trong đó, rủi ro không đến từ bản thân công nghệ, mà đến từ sự thiếu đồng bộ giữa phát triển phương tiện và tổ chức không gian đô thị.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh