GDP tăng nhanh, làm sao để doanh nghiệp Việt lớn mạnh tương xứng?

GDP tăng nhanh, làm sao để doanh nghiệp Việt lớn mạnh tương xứng?

(Vietnamarchi) - Tăng trưởng GDP cao tạo thêm dư địa để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển, nhưng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế chưa tự động chuyển thành sức mạnh của doanh nghiệp trong nước. Điều quan trọng hơn là sau mỗi chu kỳ tăng trưởng, doanh nghiệp Việt có tích lũy được thêm vốn, làm chủ công nghệ, nâng cao năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không.
15:24, 19/10/2026

Bởi xét đến cùng, chất lượng tăng trưởng không chỉ nằm ở những con số GDP, mà còn ở năng lực sản xuất được bồi đắp và những cơ hội cải thiện đời sống mà nền kinh tế tạo ra.

GDP Việt Nam chín tháng đầu năm 2026 ước tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95% so với cùng kỳ. Đây là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh IMF dự báo kinh tế thế giới tăng 3,1% trong cả năm. Dù khác kỳ thống kê, những con số này vẫn cho thấy nhịp tăng trưởng nổi bật của Việt Nam.

Điều cần quan tâm tiếp theo là nền kinh tế tích lũy được gì từ nhịp tăng ấy. Sau mỗi năm, doanh nghiệp trong nước có đủ sức nhận những đơn hàng phức tạp hơn, đầu tư vào công nghệ và trả lương cao hơn nhờ năng suất tốt hơn hay không? Đó là câu hỏi về khả năng chuyển tăng trưởng hôm nay thành năng lực phát triển ngày mai.

Xuất khẩu tăng mạnh, giá trị gia tăng trong nước ở đâu?

Chín tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa đạt 434,30 tỷ USD. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 350,41 tỷ USD, chiếm 80,7%; khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, chiếm 19,3%. Xuất khẩu của hai khu vực tăng lần lượt 29,4% và 7,5%. Những số liệu này cho thấy vai trò chủ lực của FDI và khoảng cách về quy mô xuất khẩu giữa hai khu vực.

Tuy nhiên, không thể từ đó suy ra Việt Nam chỉ hưởng 19,3% giá trị xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu, giá trị gia tăng tạo ra trong nước và thu nhập thuộc về các chủ thể cư trú là những khái niệm khác nhau. Doanh nghiệp FDI tạo việc làm, trả lương, nộp thuế và mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam.

Doanh nghiệp nội địa cũng có thể sử dụng nhiều nguyên liệu, máy móc và công nghệ nhập khẩu. Vì vậy, tỷ trọng xuất khẩu theo khu vực sở hữu chưa đủ để trả lời nền kinh tế thực sự tích lũy được bao nhiêu. Câu hỏi sâu hơn là doanh nghiệp Việt đang tham gia vào những khâu nào: cung cấp dịch vụ đơn giản, gia công theo thiết kế có sẵn, hay đã đủ năng lực sản xuất linh kiện, thiết kế sản phẩm và phát triển công nghệ? Thu hút một nhà máy lớn có thể tạo thêm sản lượng ngay. Hình thành một mạng lưới nhà cung ứng nội địa đủ năng lực cần thời gian, nhân lực và đầu tư bền bỉ. Chính mạng lưới ấy giúp cơ hội từ FDI lan rộng vào nền kinh tế.

Nhập khẩu tư liệu sản xuất và bài toán chuyển hóa nguồn lực

Bức tranh nhập khẩu cũng cần được đọc thận trọng.

Chín tháng năm 2026, Việt Nam nhập siêu hàng hóa 19,42 tỷ USD, nhưng tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu tăng có thể phục vụ mở rộng năng lực sản xuất. Hiệu quả cuối cùng phải được đánh giá bằng năng suất, khả năng vận hành công nghệ và giá trị gia tăng hình thành sau đó.

Việt Nam đã trở thành địa điểm sản xuất lớn. Ảnh Thạch Thảo

Vấn đề vì thế không nằm ở việc sử dụng bao nhiêu nguồn lực nước ngoài, mà ở khả năng biến những nguồn lực ấy thành năng lực phát triển của Việt Nam.

Những điểm nghẽn khiến doanh nghiệp khó lớn

Hàng triệu hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất nhỏ tạo việc làm, cung cấp hàng hóa, dịch vụ và duy trì sinh kế cho nhiều gia đình.

Quy mô nhỏ tự nó không phải một khiếm khuyết. Nhiều cơ sở lựa chọn hoạt động trong phạm vi phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình. Điều cần tháo gỡ là những rào cản khiến cơ sở có tiềm năng và mong muốn mở rộng vẫn khó lớn lên. Trước hết là khả năng dự đoán môi trường kinh doanh. Đầu tư vào một dây chuyền, một sản phẩm hay một đội ngũ kỹ thuật thường cần nhiều năm thu hồi vốn. Khi thủ tục, cách thực thi quy định hoặc chi phí tuân thủ khó dự liệu, doanh nghiệp có lý do để trì hoãn đầu tư. Nguồn lực dành cho phát triển dễ bị thu hẹp bởi nhu cầu ứng phó trước mắt.

Ảnh minh hoạ

Tiếp đến là sự phù hợp của nguồn vốn. Doanh nghiệp cần vốn lưu động để duy trì hoạt động, nhưng muốn nâng cấp còn cần vốn cho thiết kế, phần mềm, đào tạo và nghiên cứu. Những khoản đầu tư này có thể tạo giá trị lớn mà không lập tức hình thành tài sản dễ thế chấp. Nếu thiếu nguồn tài chính phù hợp, doanh nghiệp khó vượt khỏi những hoạt động quen thuộc có biên lợi nhuận thấp.

Một nút thắt khác là năng lực đáp ứng thị trường. Bước vào chuỗi cung ứng đòi hỏi chất lượng đồng đều, giao hàng đúng hạn, truy xuất được nguồn gốc và đủ sức duy trì sản lượng. Doanh nghiệp cần đầu tư để đáp ứng tiêu chuẩn, nhưng lại khó đầu tư khi chưa có triển vọng đơn hàng đủ rõ. Vòng luẩn quẩn ấy khó được giải quyết chỉ bằng những cuộc kết nối thương mại. Đây là các cơ chế cần được kiểm chứng bằng dữ liệu doanh nghiệp và trường hợp thực tế. Muốn chính sách trúng đích, phải biết doanh nghiệp đang dừng lại ở khâu nào, vì sao dừng lại và điều kiện nào có thể giúp họ bước tiếp.

Bản thân doanh nghiệp cũng có trách nhiệm nâng cấp quản trị, minh bạch tài chính, xây dựng đội ngũ và giữ uy tín với đối tác. Chính sách hỗ trợ chỉ phát huy tác dụng khi đi cùng năng lực tổ chức và cam kết đầu tư của người kinh doanh.

Từ khuyến khích chung đến hỗ trợ có kết quả

Muốn doanh nghiệp lớn mạnh, cần tạo điều kiện để đầu tư dài hạn trở thành một lựa chọn khả thi. Ưu tiên đầu tiên là giảm chi phí tuân thủ và tăng tính nhất quán trong thực thi. Doanh nghiệp cần biết một thủ tục mất bao lâu, điều kiện nào phải đáp ứng và quyền lợi hợp pháp được bảo vệ ra sao. Môi trường dễ dự đoán giúp họ tính toán đầu tư với tầm nhìn dài hơn.

Ưu tiên tiếp theo là hỗ trợ nâng cấp năng suất. Các chương trình về vốn, công nghệ và đào tạo nên gắn với kết quả có thể đánh giá: giảm tỷ lệ lỗi, tiết kiệm nguyên liệu, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc tạo ra sản phẩm mới. Hỗ trợ cần có mục tiêu và thời hạn, tránh kéo dài những hoạt động kém hiệu quả. Với liên kết FDI, nên bắt đầu từ nhu cầu mua hàng cụ thể. Nhà đầu tư cần loại linh kiện nào, tiêu chuẩn ra sao, sản lượng bao nhiêu; doanh nghiệp nội địa còn thiếu thiết bị, nhân lực hay hệ thống quản lý nào? Khi khoảng cách được xác định rõ, hỗ trợ mới có địa chỉ và kết quả mới có thể đo lường.

Cũng cần mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường dựa trên năng lực và cạnh tranh công bằng. Một doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc vào chất lượng phải có cơ hội phát triển bằng chất lượng ấy. Thành công của chính sách doanh nghiệp vì vậy cần được nhìn qua khả năng tồn tại, nâng năng suất và mở rộng thị trường, bên cạnh số lượng đăng ký mới hay số vốn công bố.

Năng suất phải chuyển thành đời sống tốt hơn

GDP đo giá trị gia tăng tạo ra trong lãnh thổ; GDP bình quân đầu người không phải thu nhập thực nhận của mỗi người dân.

Tăng trưởng có ý nghĩa xã hội khi mở rộng cơ hội việc làm, cải thiện sức mua và giúp các gia đình tích lũy tốt hơn. Do đó, đánh giá chất lượng tăng trưởng cần theo dõi đồng thời năng suất, thu nhập thực tế, tính ổn định của việc làm và khả năng tiếp cận những dịch vụ thiết yếu. Số bình quân cũng cần được bổ sung bằng thông tin về khác biệt giữa các nhóm lao động, ngành nghề và địa phương.

Doanh nghiệp nội địa mạnh lên có thể mở rộng nền tảng cho quá trình này. Khi có năng suất và thị trường tốt hơn, doanh nghiệp có điều kiện trả lương cao hơn, đào tạo người lao động và tái đầu tư. Muốn khả năng ấy trở thành thực tế, cần cả cạnh tranh lành mạnh, cơ hội nâng kỹ năng và cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động. Đó là mối liên hệ cần được nuôi dưỡng giữa sức mạnh doanh nghiệp và chất lượng sống của người dân.

Đo thành quả bằng năng lực tích lũy

Việt Nam cần tăng trưởng nhanh để tạo việc làm, nâng cấp hạ tầng và rút ngắn khoảng cách phát triển. Duy trì tốc độ ấy lâu dài đòi hỏi vốn được phân bổ hiệu quả và năng suất liên tục cải thiện.

Bên cạnh GDP, cần theo dõi rõ hơn giá trị gia tăng trong nước của hàng xuất khẩu, năng suất doanh nghiệp nội địa, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và kết quả đổi mới công nghệ. Dữ liệu ấy giúp nhận diện nơi chính sách đang có tác dụng và nơi nguồn lực chưa chuyển thành năng lực.

Một năm tăng trưởng cao là thành quả đáng trân trọng. Giá trị lâu dài của thành quả ấy nằm ở những gì còn lại sau một chu kỳ sản xuất: doanh nghiệp có thêm năng lực, người lao động có thêm kỹ năng, nền kinh tế có thêm khả năng tạo ra giá trị. Khi ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt có thể cạnh tranh bằng năng suất, công nghệ và uy tín, tăng trưởng GDP sẽ có một nền tảng vững hơn. Người dân cũng có cơ hội nhận được thành quả phát triển qua những công việc tốt hơn và một cuộc sống ít bấp bênh hơn.

 

Bởi xét đến cùng, chất lượng tăng trưởng không chỉ nằm ở những con số GDP, mà còn ở năng lực sản xuất được bồi đắp và những cơ hội cải thiện đời sống mà nền kinh tế tạo ra.

GDP Việt Nam chín tháng đầu năm 2026 ước tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95% so với cùng kỳ. Đây là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh IMF dự báo kinh tế thế giới tăng 3,1% trong cả năm. Dù khác kỳ thống kê, những con số này vẫn cho thấy nhịp tăng trưởng nổi bật của Việt Nam.

Điều cần quan tâm tiếp theo là nền kinh tế tích lũy được gì từ nhịp tăng ấy. Sau mỗi năm, doanh nghiệp trong nước có đủ sức nhận những đơn hàng phức tạp hơn, đầu tư vào công nghệ và trả lương cao hơn nhờ năng suất tốt hơn hay không? Đó là câu hỏi về khả năng chuyển tăng trưởng hôm nay thành năng lực phát triển ngày mai.

Xuất khẩu tăng mạnh, giá trị gia tăng trong nước ở đâu?

Chín tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa đạt 434,30 tỷ USD. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 350,41 tỷ USD, chiếm 80,7%; khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, chiếm 19,3%. Xuất khẩu của hai khu vực tăng lần lượt 29,4% và 7,5%. Những số liệu này cho thấy vai trò chủ lực của FDI và khoảng cách về quy mô xuất khẩu giữa hai khu vực.

Tuy nhiên, không thể từ đó suy ra Việt Nam chỉ hưởng 19,3% giá trị xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu, giá trị gia tăng tạo ra trong nước và thu nhập thuộc về các chủ thể cư trú là những khái niệm khác nhau. Doanh nghiệp FDI tạo việc làm, trả lương, nộp thuế và mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam.

Doanh nghiệp nội địa cũng có thể sử dụng nhiều nguyên liệu, máy móc và công nghệ nhập khẩu. Vì vậy, tỷ trọng xuất khẩu theo khu vực sở hữu chưa đủ để trả lời nền kinh tế thực sự tích lũy được bao nhiêu. Câu hỏi sâu hơn là doanh nghiệp Việt đang tham gia vào những khâu nào: cung cấp dịch vụ đơn giản, gia công theo thiết kế có sẵn, hay đã đủ năng lực sản xuất linh kiện, thiết kế sản phẩm và phát triển công nghệ? Thu hút một nhà máy lớn có thể tạo thêm sản lượng ngay. Hình thành một mạng lưới nhà cung ứng nội địa đủ năng lực cần thời gian, nhân lực và đầu tư bền bỉ. Chính mạng lưới ấy giúp cơ hội từ FDI lan rộng vào nền kinh tế.

Nhập khẩu tư liệu sản xuất và bài toán chuyển hóa nguồn lực

Bức tranh nhập khẩu cũng cần được đọc thận trọng.

Chín tháng năm 2026, Việt Nam nhập siêu hàng hóa 19,42 tỷ USD, nhưng tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu tăng có thể phục vụ mở rộng năng lực sản xuất. Hiệu quả cuối cùng phải được đánh giá bằng năng suất, khả năng vận hành công nghệ và giá trị gia tăng hình thành sau đó.

Việt Nam đã trở thành địa điểm sản xuất lớn. Ảnh Thạch Thảo

Vấn đề vì thế không nằm ở việc sử dụng bao nhiêu nguồn lực nước ngoài, mà ở khả năng biến những nguồn lực ấy thành năng lực phát triển của Việt Nam.

Những điểm nghẽn khiến doanh nghiệp khó lớn

Hàng triệu hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất nhỏ tạo việc làm, cung cấp hàng hóa, dịch vụ và duy trì sinh kế cho nhiều gia đình.

Quy mô nhỏ tự nó không phải một khiếm khuyết. Nhiều cơ sở lựa chọn hoạt động trong phạm vi phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình. Điều cần tháo gỡ là những rào cản khiến cơ sở có tiềm năng và mong muốn mở rộng vẫn khó lớn lên. Trước hết là khả năng dự đoán môi trường kinh doanh. Đầu tư vào một dây chuyền, một sản phẩm hay một đội ngũ kỹ thuật thường cần nhiều năm thu hồi vốn. Khi thủ tục, cách thực thi quy định hoặc chi phí tuân thủ khó dự liệu, doanh nghiệp có lý do để trì hoãn đầu tư. Nguồn lực dành cho phát triển dễ bị thu hẹp bởi nhu cầu ứng phó trước mắt.

Ảnh minh hoạ

Tiếp đến là sự phù hợp của nguồn vốn. Doanh nghiệp cần vốn lưu động để duy trì hoạt động, nhưng muốn nâng cấp còn cần vốn cho thiết kế, phần mềm, đào tạo và nghiên cứu. Những khoản đầu tư này có thể tạo giá trị lớn mà không lập tức hình thành tài sản dễ thế chấp. Nếu thiếu nguồn tài chính phù hợp, doanh nghiệp khó vượt khỏi những hoạt động quen thuộc có biên lợi nhuận thấp.

Một nút thắt khác là năng lực đáp ứng thị trường. Bước vào chuỗi cung ứng đòi hỏi chất lượng đồng đều, giao hàng đúng hạn, truy xuất được nguồn gốc và đủ sức duy trì sản lượng. Doanh nghiệp cần đầu tư để đáp ứng tiêu chuẩn, nhưng lại khó đầu tư khi chưa có triển vọng đơn hàng đủ rõ. Vòng luẩn quẩn ấy khó được giải quyết chỉ bằng những cuộc kết nối thương mại. Đây là các cơ chế cần được kiểm chứng bằng dữ liệu doanh nghiệp và trường hợp thực tế. Muốn chính sách trúng đích, phải biết doanh nghiệp đang dừng lại ở khâu nào, vì sao dừng lại và điều kiện nào có thể giúp họ bước tiếp.

Bản thân doanh nghiệp cũng có trách nhiệm nâng cấp quản trị, minh bạch tài chính, xây dựng đội ngũ và giữ uy tín với đối tác. Chính sách hỗ trợ chỉ phát huy tác dụng khi đi cùng năng lực tổ chức và cam kết đầu tư của người kinh doanh.

Từ khuyến khích chung đến hỗ trợ có kết quả

Muốn doanh nghiệp lớn mạnh, cần tạo điều kiện để đầu tư dài hạn trở thành một lựa chọn khả thi. Ưu tiên đầu tiên là giảm chi phí tuân thủ và tăng tính nhất quán trong thực thi. Doanh nghiệp cần biết một thủ tục mất bao lâu, điều kiện nào phải đáp ứng và quyền lợi hợp pháp được bảo vệ ra sao. Môi trường dễ dự đoán giúp họ tính toán đầu tư với tầm nhìn dài hơn.

Ưu tiên tiếp theo là hỗ trợ nâng cấp năng suất. Các chương trình về vốn, công nghệ và đào tạo nên gắn với kết quả có thể đánh giá: giảm tỷ lệ lỗi, tiết kiệm nguyên liệu, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc tạo ra sản phẩm mới. Hỗ trợ cần có mục tiêu và thời hạn, tránh kéo dài những hoạt động kém hiệu quả. Với liên kết FDI, nên bắt đầu từ nhu cầu mua hàng cụ thể. Nhà đầu tư cần loại linh kiện nào, tiêu chuẩn ra sao, sản lượng bao nhiêu; doanh nghiệp nội địa còn thiếu thiết bị, nhân lực hay hệ thống quản lý nào? Khi khoảng cách được xác định rõ, hỗ trợ mới có địa chỉ và kết quả mới có thể đo lường.

Cũng cần mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường dựa trên năng lực và cạnh tranh công bằng. Một doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc vào chất lượng phải có cơ hội phát triển bằng chất lượng ấy. Thành công của chính sách doanh nghiệp vì vậy cần được nhìn qua khả năng tồn tại, nâng năng suất và mở rộng thị trường, bên cạnh số lượng đăng ký mới hay số vốn công bố.

Năng suất phải chuyển thành đời sống tốt hơn

GDP đo giá trị gia tăng tạo ra trong lãnh thổ; GDP bình quân đầu người không phải thu nhập thực nhận của mỗi người dân.

Tăng trưởng có ý nghĩa xã hội khi mở rộng cơ hội việc làm, cải thiện sức mua và giúp các gia đình tích lũy tốt hơn. Do đó, đánh giá chất lượng tăng trưởng cần theo dõi đồng thời năng suất, thu nhập thực tế, tính ổn định của việc làm và khả năng tiếp cận những dịch vụ thiết yếu. Số bình quân cũng cần được bổ sung bằng thông tin về khác biệt giữa các nhóm lao động, ngành nghề và địa phương.

Doanh nghiệp nội địa mạnh lên có thể mở rộng nền tảng cho quá trình này. Khi có năng suất và thị trường tốt hơn, doanh nghiệp có điều kiện trả lương cao hơn, đào tạo người lao động và tái đầu tư. Muốn khả năng ấy trở thành thực tế, cần cả cạnh tranh lành mạnh, cơ hội nâng kỹ năng và cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động. Đó là mối liên hệ cần được nuôi dưỡng giữa sức mạnh doanh nghiệp và chất lượng sống của người dân.

Đo thành quả bằng năng lực tích lũy

Việt Nam cần tăng trưởng nhanh để tạo việc làm, nâng cấp hạ tầng và rút ngắn khoảng cách phát triển. Duy trì tốc độ ấy lâu dài đòi hỏi vốn được phân bổ hiệu quả và năng suất liên tục cải thiện.

Bên cạnh GDP, cần theo dõi rõ hơn giá trị gia tăng trong nước của hàng xuất khẩu, năng suất doanh nghiệp nội địa, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và kết quả đổi mới công nghệ. Dữ liệu ấy giúp nhận diện nơi chính sách đang có tác dụng và nơi nguồn lực chưa chuyển thành năng lực.

Một năm tăng trưởng cao là thành quả đáng trân trọng. Giá trị lâu dài của thành quả ấy nằm ở những gì còn lại sau một chu kỳ sản xuất: doanh nghiệp có thêm năng lực, người lao động có thêm kỹ năng, nền kinh tế có thêm khả năng tạo ra giá trị. Khi ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt có thể cạnh tranh bằng năng suất, công nghệ và uy tín, tăng trưởng GDP sẽ có một nền tảng vững hơn. Người dân cũng có cơ hội nhận được thành quả phát triển qua những công việc tốt hơn và một cuộc sống ít bấp bênh hơn.

 

Tân sinh viên Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội hào hứng khám phá môi trường học tập mới

Chuỗi hoạt động chào tân học sinh, sinh viên năm học 2026-2027 của Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội không chỉ tạo không khí sôi nổi đầu năm học mà còn giúp người học rèn luyện kỹ năng mềm, tăng cường kết nối và chủ động thích nghi với môi trường giáo dục nghề nghiệp.

Prudential Việt Nam kể câu chuyện bảo vệ những giá trị quý giá qua triển lãm nghệ thuật

Prudential Việt Nam tổ chức triển lãm “Điều quý giá”, kết hợp nghệ thuật và công nghệ tương tác để truyền tải thông điệp về bảo vệ sức khỏe, vun đắp tương lai và gìn giữ những giá trị gia đình.

VEEW 2026 mở rộng cơ hội hợp tác cho ngành sự kiện và triển lãm Việt Nam

Tuần lễ Tổ chức sự kiện và Triển lãm Việt Nam 2026 (VEEW 2026) khai mạc tại Hà Nội, quy tụ doanh nghiệp, đơn vị cung ứng và cộng đồng sáng tạo, hướng tới tăng cường liên kết, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ ngành sự kiện.

Bộ Xây dựng giao Viện Kiến trúc Quốc gia khảo sát các địa điểm tưởng niệm ngành Giao thông vận tải

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947–27/7/2027), Bộ Xây dựng giao Viện Kiến trúc Quốc gia chủ trì khảo sát các nghĩa trang, di tích lịch sử và khu tưởng niệm cán bộ, công nhân viên, thanh niên xung phong ngành Giao thông vận tải trên cả nước, làm cơ sở đề xuất phương án trùng tu, cải tạo, sửa chữa.

Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam được vinh danh Cúp Thánh Gióng 2026

Ông Binu Jacob nằm trong Top 100 doanh nhân tiêu biểu toàn quốc năm 2026. Danh hiệu ghi nhận chặng đường 2021-2025 của Nestlé Việt Nam, từ vùng nguyên liệu cà phê Tây Nguyên, các chương trình đào tạo nhân lực đến cam kết phát triển bền vững.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh