Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội

Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội

(Vietnamarchi) - "Phố Phái" trong tranh Bùi Xuân Phái không ồn ào, sầm uất, mà lặng lẽ, bình dị và thân thiết. Đó là những mái ngói thâm nâu, cổ kính, những mảng tường vôi cũ kỹ, phủ lớp bụi thời gian, một vài gánh hàng rong, một vài quán cóc đìu hiu… Ông vẽ phố cổ như đang kể câu chuyện về cuộc đời mình: mộc mạc, giản dị và trầm tĩnh.
10:39, 27/11/2025

Họa sỹ Bùi Xuân Phái (1920-1988) là một trong tứ kiệt của mỹ thuật Đông Dương thế hệ cuối cùng (1940-1945) - bước vào kháng chiến và hậu chiến. Thế hệ này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng lại phản ứng bằng chủ nghĩa cá nhân sâu sắc. Họ là thế hệ hiện đại hóa bản sắc Việt, trong bối cảnh xã hội bị kìm hãm sáng tạo, thế hệ nghệ sĩ cô độc – phản tư – khai phóng trong ràng buộc ý thức hệ. Họ không minh họa lý tưởng xã hội chủ nghĩa, mà tìm tự do nghệ thuật, bản thể con người.

Trong điều kiện khó khăn thời bao cấp, thiếu vật liệu, thiếu thiết bị vẽ, họa sĩ vẫn sáng tác, không phụ thuộc giàu nghèo, danh tiếng. Nhiều tranh, ký hoạ được vẽ lên những tấm vật liệu “tạm”: phong bì, voan nhỏ, báo cũ, vỏ bao thuốc… Sự thiếu thốn vật chất ấy như lại càng làm sâu sắc thêm những giá trị của đam mê, bản lĩnh và cá tính của người nghệ sỹ, như để chứng minh một điều: con người ấy sinh ra là để vẽ về Hà Nội.

Phố Ô quan chưởng

Người ta vẫn cho rằng, những sáng tác của ông đủ để dựng nên một Hà Nội trong tranh - Hà Nội 36 phố phường. Và như đồng cảm với tình yêu Hà Nội của người nghệ sỹ ấy, yêu một Hà Nội trong tranh, người ta nói, con phố thứ 37 của Hà Nội là “Phố Phái”.

"Phố Phái" trong tranh Bùi Xuân Phái không ồn ào, sầm uất, mà lặng lẽ, bình dị và thân thiết. Đó là những mái ngói thâm nâu, cổ kính, những mảng tường vôi cũ kỹ, phủ lớp bụi thời gian, một vài gánh hàng rong, một vài quán cóc đìu hiu… Ông vẽ phố cổ như đang kể câu chuyện về cuộc đời mình: mộc mạc, giản dị và trầm tĩnh.

Houses 1968

Phố trong tranh Bùi Xuân Phái không chỉ là thực mà còn là hư, là hoài niệm xưa cũ, mỗi ngôi nhà, góc phố như mang trong nó một nỗi nhớ riêng. Phố không đông người nhưng đầy dấu vết của con người. Cái tĩnh trong tranh ông không phải sự vắng lặng mà là độ lắng của nội tâm, quay trở về bản thể : phố và người như hòa làm một. Có lẽ đó là điều mà nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân gọi là “phố tiềm thức”.

Hà Nội kháng chiến 1966

Ông từng bị cấm vẽ, gạt ra ngoài chính thống, sống nghèo và lặng lẽ. Viết về cuộc đời ông Phái, ông Vân nói : “Cuộc rong chơi can đảm, lầm lì của người đó bằng cây bút vẽ và bằng bảng màu của mình là đẹp và có ý nghĩa cho Hà Nội. Cho chúng ta mãi mãi, Làm chứng cứ lịch sử cho một nền hội hoạ đi nữa, sao bằng làm chứng cứ nhân văn cho một ý thức nghệ thuật.”

Phố Chợ Gạo

Cuộc đời ông là một cuộc phiêu lưu khám phá “cái Đẹp” trong những điều bình dị của cuộc sống. Giản dị nhưng không dễ dãi, không thỏa hiệp - dám sống thật giữa giông bão số phận, giữ trọn bản sắc nghệ thuật, tình yêu quê hương : trong sáng, tĩnh lặng mà ấm áp tinh thần dân tộc. 

Phố Hàng Thiếc

Có lẽ, tên tuổi của một “Phố Phái”, một con người trầm tĩnh, giản dị như vậy, không nên được gắn với những “phố phường tạp dịch”, những khoản tiền đầy uy quyền để chứng minh giá trị, hay những hình khối lạ mắt tạo ra từ thuật toán, gắn mác công trình văn hóa, ồn ào, phô trương, … rồi nói, đó là : Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội.

Phố Phất Lộc

“Phố Phái” không phải là một địa danh “vật chất”, mà là một “Ý Thức” Văn Hóa – nơi “cái Đẹp” dám lên tiếng để tự bảo vệ chính nó, trước một thực tế đắng ngắt, dám đau, dám đối diện, trong hành trình tìm về bản thể, tự do và khai phóng.

Dinh Độc Lập - câu chuyện kiến trúc được viết bằng ánh sáng và bê tông

Bài viết phân tích Dinh Độc Lập như một trường hợp tiêu biểu của kiến trúc hiện đại được bản địa hóa tại Việt Nam thế kỷ 20. Thông qua việc đối chiếu với Dinh Norodom, công trình cho thấy sự chuyển dịch từ kiến trúc quyền lực mang tính áp đặt sang mô hình kiểm soát bằng không gian. Các yếu tố như “rèm hoa đá”, hệ biểu tượng Hán tự và tổ chức nội – ngoại thất được đều mang nhiều lớp ý nghĩa, vừa giải quyết khí hậu, vừa thể hiện văn hóa. Bên cạnh đó, hệ thống hầm ngầm cho thấy công trình còn được thiết kế để ứng phó với chiến tranh, hoàn thiện tính biểu tượng và phòng thủ của công trình. Từ đó, Dinh Độc Lập không chỉ là di tích lịch sử mà còn là một tổng thể kiến trúc kết hợp giữa hiện đại, bản sắc và quyền lực.

Vai trò của nghệ thuật bonsai trong thiết kế cảnh quan sân vườn đương đại tại Việt Nam

Nghệ thuật Bonsai ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong thiết kế cảnh quan sân vườn tại Việt Nam, tuy nhiên vai trò của yếu tố này chưa được phân tích một cách hệ thống dưới góc độ liên ngành. Bài viết này nhằm làm rõ vai trò của Bonsai trong cấu trúc cảnh quan thông qua 4 phương diện chính: thẩm mỹ, không gian, sinh thái, văn hóa. Kết quả cho thấy Bonsai không chỉ đóng vai trò tạo hình và tổ chức thị giác mà còn tham gia điều tiết vi khí hậu, đồng thời kiến tạo giá trị văn hóa và trải nghiệm cảm quan trong không gian sân vườn. Nghiên cứu đề xuất một khung phân tích đa chiều nhằm làm rõ vai trò tích hợp của Bonsai trong thiết kế cảnh quan đương đại tại Việt Nam.

Vườn thẳng đứng - giải pháp hạ tầng xanh trong phát triển đô thị nén tại Việt Nam

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và mật độ xây dựng gia tăng tại các đô thị lớn ở Việt Nam, quỹ đất dành cho không gian xanh ngày càng suy giảm, làm gia tăng các vấn đề môi trường đô thị như hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (UHI), ô nhiễm không khí, tiếng ồn và suy giảm chất lượng sống. Trước thực trạng đó, vườn thẳng đứng được xem là một giải pháp hạ tầng xanh tiềm năng, có khả năng tích hợp cây xanh vào bề mặt đứng công trình nhằm tối ưu hóa sử dụng không gian đô thị nén.

Tư tưởng Thiền Tông và Tịnh Độ trong thiết kế vườn Nhật Bản

Nghiên cứu phân tích con đường tiếp nhận Phật giáo vào thiết kế vườn Nhật Bản và ảnh hưởng của Thiền tông – Tịnh Độ tông đến ba phong cách chính: Tsukiyama (vườn hồ đồi), Karesansui (vườn khô Thiền), Chaniwa (vườn trà). Qua phân tích lịch sử và biểu tượng không gian, nghiên cứu chỉ ra sự song hành của hai dòng Phật giáo trong triết lý tổ chức vườn Nhật, từ hình ảnh Tây Phương Cực Lạc hướng ngoại đến thiền quán hướng nội. Kết quả nghiên cứu không chỉ đem đến cái nhìn đầy đủ hơn về vườn Nhật Bản truyền thống mà còn đề xuất nguyên tắc ứng dụng triết lý Thiền- Tịnh độ vào kiến trúc cảnh quan Việt Nam, góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho kiến trúc cảnh quan bản địa.

Ngôn ngữ hình học của hoa sắt tại cụm biệt thự Hui Bon Hoa, Sài Gòn (1920-1930)

Cụm biệt thự Hui Bon Hoa tại Sài Gòn (1920-1930) là quần thể kiến trúc tiêu biểu phản ánh diện mạo tư sản đô thị Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Trong khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận từ góc độ lịch sử - xã hội, hệ thống hoa sắt trang trí tại đây chưa được phân tích một cách hệ thống dưới góc nhìn mỹ thuật học. Dựa trên khảo sát thực địa, đo vẽ và số hóa vector, bài viết làm rõ cấu trúc hình học, nguyên lý module và đặc điểm tạo hình của các mẫu hoa sắt còn tồn tại. Kết quả cho thấy hệ hoa sắt vận hành theo nhịp lặp tuyến tính, cấu trúc đối xứng tứ phương và các mô típ như vô cực giao thoa, cung bán nguyệt lặp tầng và tổ hợp hình học trung tâm, thể hiện rõ ảnh hưởng Art Deco, đồng thời phản ánh quá trình bản địa hóa trong giao thoa Đông – Tây.

Ý kiến của bạn

SunGroup
VINGROUP
Rạng Đông
Nam Group
Mây trà shan
Vinmikh