Biểu diễn vở cải lương “Trần Nhân Tông” chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam 
PV: Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, mạng lưới trường, lớp trên địa bàn xã Bát Xát có những thay đổi như thế nào? Việc tổ chức lại này đặt ra những thuận lợi và khó khăn gì đối với công tác quản lý giáo dục?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Trước ngày 1/7/2025, trên địa bàn xã Bát Xát có 15 trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, xã đã sáp nhập 3 trường tiểu học với 3 trường trung học cơ sở để thành lập 3 trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở; đồng thời chuyển học sinh từ một số điểm trường lẻ về trường chính. Đến nay, toàn xã còn 12 trường.
Trong đợt sắp xếp tiếp theo, xã dự kiến tiếp tục tổ chức lại mạng lưới trường học, giảm từ 12 trường xuống còn 6 trường. Như vậy, so với thời điểm trước ngày 1/7/2025, số trường trên địa bàn dự kiến giảm 60%. Việc sắp xếp không chỉ nhằm tinh gọn đầu mối mà quan trọng hơn là tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng giáo dục.
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả quản lý. Việc giảm đầu mối giúp công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện tập trung và thống nhất hơn. Thay vì phải cập nhật, tổng hợp thông tin từ 15 cơ sở giáo dục như trước đây, địa phương dự kiến chỉ còn làm việc với 6 đầu mối. Số đơn vị và chi bộ phải xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch riêng cũng giảm tương ứng, qua đó hạn chế thủ tục hành chính và giảm áp lực công việc cho các nhà trường.
Việc sáp nhập còn tạo điều kiện bố trí, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn và nhân viên dùng chung. Giáo viên các môn Mỹ thuật, Giáo dục thể chất, Âm nhạc, Tin học cùng nhân viên kế toán, văn thư, thủ quỹ, y tế và thiết bị có thể được điều phối hợp lý hơn. Qua đó, địa phương có điều kiện tăng cường số lượng giáo viên trực tiếp giảng dạy, từng bước khắc phục tình trạng thừa, thiếu nhân lực cục bộ.
Tuy nhiên, sau sắp xếp, quy mô trường học lớn hơn, địa bàn quản lý rộng hơn, đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải nâng cao năng lực quản trị, tăng cường phối hợp và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động điều hành.
Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục. Khi các trường có quy mô lớn hơn, công tác hành chính được tinh giản, đội ngũ trực tiếp giảng dạy được tăng cường. Giáo viên có thêm điều kiện trao đổi kinh nghiệm, học hỏi những nhân tố điển hình và tham gia các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
Học sinh cũng có cơ hội tiếp cận đội ngũ giáo viên có chất lượng đồng đều hơn, được tham gia nhiều hoạt động giáo dục toàn diện. Công tác kiểm tra, đánh giá và kiểm soát chất lượng dạy học được thực hiện tập trung, thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn.
Thứ ba, tiết kiệm ngân sách và tập trung nguồn lực đầu tư. Việc tổ chức lại mạng lưới trường học giúp giảm một phần chi thường xuyên cho công tác quản lý, điện, nước và vận hành. Các phòng học chức năng như phòng Tin học, Ngoại ngữ, Âm nhạc, phòng họp và phòng thiết bị được khai thác, sử dụng chung, hạn chế tình trạng đầu tư phân tán.
Cùng với việc tinh gọn đội ngũ cán bộ quản lý và bố trí hợp lý giáo viên, nhân viên dùng chung, nguồn ngân sách tiết kiệm được có thể tập trung đầu tư cho những hạng mục cấp thiết. Qua đó, địa phương từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, nâng cao điều kiện dạy và học, hướng tới xây dựng mạng lưới trường học tinh gọn nhưng hoạt động thực chất, hiệu quả và bền vững.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh (áo tím), Phó Chủ tịch UBND xã Bát Xát, cùng đoàn công tác kiểm tra công tác chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026–2027 và Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
PV: Bà đánh giá ra sao về chất lượng giáo dục của xã hiện nay, nhất là ở các tiêu chí như tỷ lệ huy động học sinh đến trường, duy trì sĩ số, kết quả học tập và tỷ lệ học sinh chuyển cấp?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Xã Bát Xát được thành lập trên cơ sở sắp xếp 5 đơn vị hành chính cấp xã và thị trấn trước ngày 1/7/2025, do đó mạng lưới trường, lớp trên địa bàn tương đối lớn. Hiện nay, xã vẫn còn một số trường nằm tại các thôn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, địa hình chia cắt, giao thông chưa thuận lợi, ảnh hưởng nhất định đến việc đi lại và học tập của học sinh.
Tuy nhiên, nhờ sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng nỗ lực của các nhà trường, giáo viên và phụ huynh, chất lượng giáo dục trên địa bàn tiếp tục được duy trì và từng bước nâng lên. Tỷ lệ huy động học sinh đến trường đạt trên 99%; tỷ lệ duy trì sĩ số qua các buổi học đạt từ 97% đến 100%. Tỷ lệ trẻ hoàn thành chương trình mầm non vào lớp 1 và học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào trung học cơ sở đều đạt 100%. Đặc biệt, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình trung học cơ sở tiếp tục học trung học phổ thông của Bát Xát thuộc nhóm 10 xã dẫn đầu toàn tỉnh.
Những kết quả trên cho thấy công tác huy động, duy trì sĩ số và bảo đảm tính liên tục trong quá trình học tập của học sinh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đây cũng là nền tảng quan trọng để xã tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thu hẹp khoảng cách giữa các khu vực và tạo điều kiện để học sinh vùng khó khăn được học tập, phát triển tốt hơn.

PV: Bát Xát có địa bàn rộng, địa hình chia cắt, nhiều thôn, bản nằm xa trung tâm. Những yếu tố này đang tác động như thế nào đến cơ hội tiếp cận giáo dục và chất lượng học tập của học sinh?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Tại một số thôn nằm xa trung tâm, địa hình chia cắt và giao thông còn khó khăn, xã vẫn duy trì các điểm trường dành cho trẻ mầm non và học sinh những lớp đầu cấp tiểu học như lớp 1, lớp 2. Việc duy trì các điểm trường này giúp rút ngắn khoảng cách đi lại, tạo điều kiện để học sinh nhỏ tuổi được đến trường an toàn, thuận lợi và duy trì việc học tập thường xuyên.
Hiện nay, xã Bát Xát còn 7 thôn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Đối với học sinh tại 4 thôn xa xôi, khó khăn nhất, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Phìn Ngan đã tạo điều kiện thuận lợi cho các em ăn ở, sinh hoạt và học tập tập trung tại trường, hạn chế việc phải di chuyển hằng ngày trên quãng đường xa.
Mô hình bán trú cũng giúp nhà trường tổ chức hiệu quả các hoạt động dạy học, phụ đạo, giáo dục kỹ năng sống và chăm sóc học sinh. Qua đó, các em có thêm điều kiện giao lưu, rèn luyện tính tự lập, duy trì sĩ số và từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
PV: Xã đang thực hiện những giải pháp nào để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hạn chế học sinh nghỉ học, bỏ học và khắc phục tình trạng học không?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hạn chế học sinh nghỉ học, bỏ học và từng bước thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa khu vực trung tâm với các thôn, bản xa, xã Bát Xát đang tập trung thực hiện một số giải pháp.
Thứ nhất, xã triển khai đầy đủ các chủ trương, chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với trường phổ thông dân tộc bán trú, trường nội trú và học sinh tiểu học, trung học cơ sở tại xã biên giới. Những chính sách này góp phần khắc phục khó khăn đối với học sinh phải đi học xa, tạo điều kiện để các em được ăn ở, sinh hoạt và học tập ổn định tại trường. Qua đó, học sinh có thêm thời gian tự học, ôn tập, củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng mềm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Thứ hai, xã quan tâm đầu tư hạ tầng giao thông, Internet và nâng cao chất lượng chuyển đổi số trong giáo dục. Đây là cơ sở để tăng cường kết nối giữa trường chính với các điểm trường lẻ, giữa trường ở khu vực xa trung tâm với các trường tại khu vực trung tâm. Các hình thức dạy học trực tuyến cũng được nghiên cứu, áp dụng linh hoạt nhằm chia sẻ phương pháp giảng dạy, tài liệu và học liệu giữa các nhà trường, điểm trường, giúp học sinh tại các khu vực khó khăn có thêm cơ hội tiếp cận điều kiện học tập tốt hơn.
Thứ ba, xã chỉ đạo các ban, ngành và tổ chức chính trị – xã hội phối hợp chặt chẽ với các nhà trường trong công tác tuyên truyền, vận động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số. Đồng thời, các đơn vị cùng tham gia tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống, tuyên truyền về an toàn giao thông và hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, qua đó góp phần hạn chế tình trạng nghỉ học, bỏ học trên địa bàn.
PV: Mô hình trường bán trú, nội trú và trường liên cấp có ý nghĩa như thế nào đối với việc bảo đảm an toàn, duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục tại khu vực biên giới?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Mô hình trường bán trú, nội trú và trường liên cấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo đảm an toàn, duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục tại khu vực biên giới.
Trước hết, các mô hình này góp phần khắc phục những khó khăn về khoảng cách địa lý và giao thông. Học sinh không phải đi lại hằng ngày trên quãng đường xa, nhất là trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt và địa hình hiểm trở. Nhờ đó, nguy cơ mất an toàn trên đường đến trường được giảm thiểu, tình trạng học sinh nghỉ học, bỏ học cũng từng bước được hạn chế, góp phần duy trì sĩ số ổn định.
Bên cạnh đó, việc tổ chức cho học sinh ăn, ở và học tập tập trung tại trường tạo điều kiện thuận lợi để nhà trường quản lý, chăm sóc và giáo dục các em toàn diện cả về kiến thức, nề nếp, thể chất và kỹ năng sống. Học sinh được học tập trong môi trường ổn định, nhận được sự hỗ trợ thường xuyên của giáo viên, từ đó nâng cao kết quả học tập và rèn luyện.
Đối với mô hình trường liên cấp, việc tổ chức nhiều cấp học trong cùng một cơ sở giúp khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên. Mô hình này còn tạo sự liên thông giữa các cấp học, giúp học sinh làm quen với môi trường học tập và hạn chế sự gián đoạn trong quá trình chuyển cấp.
Quan trọng hơn, các mô hình trường bán trú, nội trú và liên cấp góp phần thu hẹp khoảng cách về điều kiện và chất lượng giáo dục giữa khu vực biên giới với khu vực thuận lợi, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Vì vậy, tiếp tục đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động của những mô hình này là giải pháp thiết thực, lâu dài để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực tại khu vực biên giới.
PV: Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong dạy học tại Bát Xát hiện gặp những khó khăn gì về thiết bị, đường truyền và năng lực sử dụng công nghệ của giáo viên, học sinh?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Quá trình chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong dạy học tại Bát Xát hiện còn gặp một số khó khăn. Đường truyền Internet tại một số trường, kể cả trường ở khu vực trung tâm xã, chưa thực sự ổn định, ảnh hưởng đến việc khai thác học liệu số, tổ chức dạy học trực tuyến và kết nối giữa các trường, điểm trường.
Bên cạnh đó, thiết bị phục vụ chuyển đổi số trong giáo dục chưa được đầu tư đồng bộ. Tại một số trường, máy tính và thiết bị công nghệ đã được trang bị từ lâu nên xuống cấp, tốc độ truy cập chậm, hoạt động thiếu ổn định và chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.
Năng lực sử dụng công nghệ của giáo viên và học sinh cũng chưa đồng đều, nhất là tại các điểm trường xa trung tâm. Vì vậy, cùng với việc nâng cấp đường truyền và bổ sung thiết bị, địa phương cần tiếp tục tăng cường tập huấn kỹ năng số cho đội ngũ giáo viên, hướng dẫn học sinh sử dụng công nghệ an toàn, hiệu quả, từng bước thu hẹp khoảng cách chuyển đổi số giữa các khu vực.
PV: Trong những năm tới, xã Bát Xát đặt ra mục tiêu và lộ trình như thế nào để thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các khu vực, bảo đảm mọi trẻ em đều được học tập trong môi trường an toàn, bình đẳng và nhân văn?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Trọng tâm là duy trì vững chắc phổ cập giáo dục, giảm thiểu tối đa tình trạng học sinh bỏ học, đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Địa phương hướng tới xây dựng hệ thống trường lớp tinh gọn, hiệu quả, gắn với phát triển các mô hình bán trú, nội trú và trường liên cấp phù hợp với điều kiện thực tế.
Về lộ trình, giai đoạn trước mắt tập trung rà soát, sắp xếp mạng lưới trường lớp hợp lý; đầu tư cơ sở vật chất, đặc biệt là phòng học kiên cố, khu bán trú và công trình thiết yếu; ưu tiên bố trí, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chuyên môn. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy nhằm rút ngắn khoảng cách giữa các vùng. Giai đoạn tiếp theo, xã tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục kỹ năng sống, gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương, tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội.
Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, nhất là học sinh dân tộc thiểu số, sẽ được triển khai đồng bộ để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Qua đó, từng bước xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, góp phần phát triển nguồn nhân lực bền vững cho địa phương.